Điều 4. Trách nhiệm xây dựng chương trình an ninh hàng không
1. Đơn vị kiểm soát an ninh hàng không chủ trì, phối hợp với người khai thác cảng hàng không, sân bay xây dựng chương trình an ninh hàng không phù hợp chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình, trình Cục Quản lý xuất nhập cảnh phê duyệt; cung cấp phần phù hợp của chương trình an ninh hàng không theo danh mục trong chương trình an ninh hàng không đã được phê duyệt.
2. Người khai thác cảng hàng không, sân bay chủ trì, phối hợp với đơn vị kiểm soát an ninh hàng không và các cơ quan, đơn vị liên quan tại cảng hàng không, sân bay xây dựng chương trình an ninh hàng không trình Cục Quản lý xuất nhập cảnh phê duyệt; cung cấp phần phù hợp của chương trình an ninh hàng không theo danh mục trong chương trình an ninh hàng không đã được phê duyệt. Nội dung liên quan đến công tác bảo đảm an ninh hàng không trong chương trình an ninh hàng không thực hiện theo chương trình an ninh hàng không của đơn vị kiểm soát an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Người khai thác sân bay chuyên dùng xây dựng chương trình an ninh hàng không trình Cục Quản lý xuất nhập cảnh phê duyệt; cung cấp phần phù hợp của chương trình an ninh hàng không theo danh mục trong chương trình an ninh hàng không đã được phê duyệt.
4. Hãng hàng không Việt Nam xây dựng chương trình an ninh hàng không; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không lưu; doanh nghiệp sản xuất, bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay, thiết bị tàu bay; cơ sở cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay; cơ sở xử lý hàng hóa, bưu gửi để đưa lên tàu bay xây dựng chương trình an ninh hàng không trình Cục Quản lý xuất nhập cảnh phê duyệt theo quy định; cung cấp phần phù hợp của chương trình an ninh hàng không theo danh mục trong chương trình an ninh hàng không đã được phê duyệt.
5. Hãng hàng không nước ngoài thực hiện vận chuyển thường lệ đến và đi từ Việt Nam phải trình chương trình an ninh hàng không đang có hiệu lực và quy trình an ninh hàng không bổ sung đối với hoạt động khai thác của hãng tại Việt Nam để Cục Quản lý xuất nhập cảnh chấp thuận theo quy định; cung cấp phần phù hợp của chương trình an ninh hàng không cho người khai thác cảng hàng không, sân bay và đơn vị kiểm soát an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay mà hãng có đường bay đến và đi.
6. Đối với những tổ chức đang xây dựng, hoàn thiện hồ sơ trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận người khai thác cảng hàng không, sân bay; giấy chứng nhận người khai thác tàu bay; giấy phép cung cấp dịch vụ hàng không được phép xây dựng, trình Cục Quản lý xuất nhập cảnh phê duyệt chương trình an ninh hàng không. Trường hợp chương trình an ninh hàng không được Cục Quản lý xuất nhập cảnh phê duyệt, trong quyết định phê duyệt phải ghi rõ thời hạn hiệu lực của quyết định phù hợp với giấy chứng nhận hoặc giấy phép được cấp.
7. Chương trình an ninh hàng không của các đơn vị, doanh nghiệp hàng không tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này quy định chi tiết trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan trong công tác bảo đảm an ninh hàng không, quy trình, thủ tục, biện pháp bảo đảm an ninh hàng không được quy định tại Thông tư này. Nội dung trong chương trình an ninh hàng không của các hãng hàng không, người khai thác tàu bay Việt Nam, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không lưu, đơn vị cung cấp dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không liên quan đến hoạt động tại cảng hàng không phải đúng quy định của pháp luật và phù hợp với chương trình an ninh hàng không, kế hoạch khẩn nguy của đơn vị kiểm soát an ninh hàng không.
8. Chương trình an ninh hàng không của các đơn vị, doanh nghiệp nêu tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này phải được xây dựng đảm bảo nội dung theo quy định tại các Phụ lục I, II, III, IV và V ban hành kèm theo Thông tư này.