Điều 24. Vận chuyển đồng bộ hành khách và hành lý
1. Hành lý của mỗi hành khách phải được vận chuyển cùng với hành khách trên một chuyến bay, trừ các trường hợp sau đây:
a) Vận chuyển hành lý thất lạc;
b) Hành lý bị giữ lại vì lý do an ninh, an toàn của chuyến bay;
c) Vận chuyển túi ngoại giao, túi lãnh sự;
d) Hành khách bị chết trên tàu bay và thi thể bị đưa ra khỏi tàu bay;
đ) Hành lý được vận chuyển như hàng hóa;
e) Các trường hợp bất khả kháng.
2. Hãng hàng không hoặc người khai thác tàu bay phải bảo đảm:
a) Mỗi kiện hành lý ký gửi phải có thẻ hành lý ghi rõ số chuyến bay, ngày, tháng, năm và mã số của kiện hành lý;
b) Trước khi tàu bay khởi hành, lập bảng kê hành lý ký gửi và thực hiện đối chiếu hành lý ký gửi với danh sách hành khách, tổ bay của chuyến bay;
c) Ký bảng kê danh mục hành lý ký gửi đã chất xếp lên tàu bay.
3. Trong trường hợp hành khách đã được cấp thẻ lên tàu bay nhưng không có mặt để thực hiện chuyến bay hoặc thành viên tổ bay không tham gia chuyến bay, hãng hàng không có trách nhiệm đảm bảo tất cả hành lý của hành khách hoặc thành viên tổ bay đó phải được đưa xuống tàu bay trước khi cho tàu bay khởi hành.
4. Hành lý ký gửi vận chuyển không cùng với hành khách trên chuyến bay theo quy định tại khoản 1 Điều này phải áp dụng ít nhất một trong các biện pháp kiểm tra an ninh hàng không bổ sung sau đây và phải được lập thành biên bản, trừ túi ngoại giao, túi lãnh sự:
a) Soi chiếu bằng máy soi đối với đồ vật ở các tư thế khác nhau;
b) Kiểm tra bằng dụng cụ, thiết bị phát hiện chất nổ.
5. Người khai thác tàu bay quy định cụ thể các biện pháp đảm bảo đồng bộ hành khách, hành lý trong chương trình an ninh hàng không.
6. Hãng hàng không có trách nhiệm thông báo cho lực lượng kiểm soát an ninh hàng không các trường hợp hành lý ký gửi vận chuyển không cùng với hành khách trên chuyến bay như sau:
a) Đối với chuyến bay quá cảnh, trung chuyển: Thông báo khi làm thủ tục chặng bay tiếp theo đối với hành lý đó;
b) Đối với chuyến bay xuất phát: Thông báo khi làm thủ tục chấp nhận vận chuyển hành lý.