Điều 23. Tổ chức bảo vệ khu vực, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trên địa bàn Thành phố
1. Các khu vực, địa điểm được xác định là khu vực cấm, địa điểm cấm phải cắm biển “Khu vực cấm”, “Địa điểm cấm”.
Mẫu biển “Khu vực cấm”, “Địa điểm cấm” được quy định tại Thông tư số 12/2002/TT-BCA (A11) ngày 13/9/2002 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước
2. Tùy từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, việc tổ chức bảo vệ khu vực, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trên địa bàn Thành phố phải đảm bảo những điều kiện sau:
a) Phải xây dựng và niêm yết Nội quy bảo vệ do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý khu vực, địa điểm đó quy định.
b) Công dân Việt Nam vào khu vực cấm, địa điểm cấm phải được Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý khu vực, địa điểm đó cho phép. Người nước ngoài vào khu vực cấm, địa điểm cấm phải có giấy phép do Giám đốc Công an Thành phố cấp. Nếu vào khu vực quân sự, công an do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tư lệnh Thủ đô, Công an Thành phố quản lý phải được Thủ trưởng đơn vị quản lý khu vực đó cho phép.
c) Bố trí lực lượng bảo vệ;
d) Trang bị hệ thống khóa đảm bảo an toàn;
đ) Hệ thống Camera giám sát an ninh;
e) Thẻ ra, vào địa điểm cấm cho những người có phận sự;
f) Cổng từ, máy soi;
g) Các thiết bị an ninh, an toàn khác.