Điều 19. Giải mật bí mật Nhà nước
1. Nguyên tắc giải mật tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
2. Trình tự, thủ tục giải mật
a) Khi được lãnh đạo cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương phê duyệt, đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước thành lập Hội đồng giải mật bao gồm: Đại diện lãnh đạo đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng; đại diện các bộ phận soạn thảo tài liệu mật và các bộ phận khác có liên quan theo chỉ định của Chủ tịch Hội đồng.
b) Hội đồng giải mật có trách nhiệm nghiên cứu tài liệu, thẩm định và đề xuất lãnh đạo cơ quan, tổ chức, địa phương quyết định việc giải mật tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước.
Đề xuất Danh mục tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước giải mật của Hội đồng được thể hiện bằng hình thức văn bản. Quá trình giải mật phải được lập thành biên bản lưu giữ tại hồ sơ cơ quan, tổ chức, địa phương.
c) Đối với tài liệu thuộc độ “Tuyệt mật” liên quan đến lĩnh vực Công an, Quốc phòng, Ngoại giao thì cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương phải có trách nhiệm xin ý kiến của các Bộ, ngành có liên quan trước khi báo cáo lãnh đạo cơ quan, tổ chức, địa phương ra quyết định giải mật.
d) Sau khi lãnh đạo cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương quyết định giải mật, văn thư đóng dấu giải mật theo quy định. Cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương có trách nhiệm thông báo cho các đơn vị liên quan biết, tiếp cận tài liệu đã được giải mật.
3. Tự động giải mật (tự động xóa bỏ độ mật của tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước mà không cần tiến hành các thủ tục giải mật theo quy định).
Các tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước được tự động giải mật bao gồm: Các tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước được cấp có thẩm quyền cho phép công bố toàn văn hoặc toàn bộ thông tin chứa trong tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước đó trên các phương tiện thông tin đại chúng.
4. Tài liệu lưu trữ lịch sử có nội dung bí mật Nhà nước được giải mật theo quy định của Luật Lưu trữ và văn bản hướng dẫn thi hành.