Điều 56. Chế độ báo cáo của ngân hàng giám sát
1. Ngân hàng giám sát phải lập báo cáo giám sát tháng, quý, năm về hoạt động quản lý quỹ của công ty quản lý quỹ đối với Quỹ mà mình giám sát. Báo cáo này phải được gửi Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và người đầu tư.
2. Báo cáo giám sát của ngân hàng giám sát phải đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, pháp luật liên quan và Điều lệ quỹ của công ty quản lý quỹ về những nội dung sau:
a) Toàn bộ hoạt động quản lý quỹ;
b) Việc xác định giá trị tài sản ròng của Quỹ;
c) Việc phát hành chứng chỉ quỹ, huy động vốn của Quỹ;
d) Các vi phạm (nếu có) của công ty quản lý quỹ và đề nghị hướng giải quyết, khắc phục.
3. Thời hạn nộp báo cáo cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nước:
a) Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc tháng, ngân hàng giám sát gửi báo cáo giám sát tháng tới Uỷ ban chứng khoán Nhà nước;
b) Trong vòng 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý, ngân hàng giám sát gửi báo cáo giám sát quý tới Uỷ ban chứng khoán Nhà nước;
c) Trong vòng 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, ngân hàng giám sát gửi báo cáo giám sát năm tới Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.
4. Ngân hàng giám sát có nghĩa vụ báo cáo Uỷ ban chứng khoán Nhà nước trong trường hợp phát hiện công ty quản lý quỹ, Ban đại diện quỹ vi phạm Điều lệ quỹ, Bản cáo bạch và pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày vi phạm được phát hiện.
5. Trường hợp có giao dịch chuyển nhượng chứng chỉ quỹ của tổ chức và cá nhân nước ngoài từ 5% vốn điều lệ quỹ trở lên, ngân hàng giám sát phải báo cáo Uỷ ban chứng khoán Nhà nước các thông tin về giao dịch trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh giao dịch đó.
6. Ngân hàng giám sát có nghĩa vụ báo cáo theo yêu cầu bằng văn bản của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.