Điều 7. Thu hồi chứng thư số
1. Chứng thư số được thu hồi trong các trường hợp sau đây:
a) Chứng thư số hết hạn sử dụng;
b) Thuê bao nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc thay đổi vị trí công tác không còn thuộc đối tượng sử dụng chứng thư số;
c) Thuê bao nguyên là người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 5 của Quy chế này nhưng có thay đổi chức danh và không còn thuộc đối tượng này;
d) Có yêu cầu bằng văn bản từ thuê bao trong các trường hợp: Khóa bí mật bị lộ hoặc nghi bị lộ, thiết bị lưu khóa bí mật bị thất lạc, bị sao chép hoặc các trường hợp mất an toàn khác (Văn bản yêu cầu được lập theo Mẫu số 4 của Quy chế này);
đ) Có yêu cầu bằng văn bản (hoặc thông qua chứng thư số còn hiệu lực) từ Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông hoặc từ cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan an ninh;
g) Thuê bao vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng khóa bí mật và thiết bị lưu khóa bí mật được quy định tại Điều 14 của Quy chế này.
2. Quy trình thu hồi chứng thư số
a) Mọi yêu cầu thu hồi chứng thư số phải thông báo đến Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông. Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông gửi yêu cầu thu hồi chứng thư số tới Tổ chức chứng thực số chuyên dùng. Yêu cầu thu hồi chứng thư số có thể gửi thông qua chứng thư số còn hiệu lực hoặc thực hiện nhanh nhất bằng văn bản;
b) Khi nhận được yêu cầu thu hồi chứng thư số, Tổ chức chứng thực số chuyên dùng ngay lập tức làm mất hiệu lực của chứng thư số và công bố chứng thư số bị thu hồi trên trang web của Tổ chức chứng thực số chuyên dùng tại địa chỉ: http://ca.gov.vn; đồng thời thông báo bằng văn bản (hoặc thông qua chứng thư số còn hiệu lực) cho Cơ quan tiếp nhận yêu cầu chứng thực và Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông;
c) Sau khi nhận được văn bản thu hồi chứng thư số, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông cử cán bộ thu hồi thiết bị lưu khóa bí mật, giao lại cho Tổ chức chứng thực số chuyên dùng thông qua Cơ quan tiếp nhận yêu cầu chứng thực. Quá trình giao nhận phải lập biên bản theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Quy chế này.