Điều 4. Bồi thường, hỗ trợ đối với trường hợp đặc biệt
1. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất có thời hạn để thi công công trình, thì người đang sử dụng đất được bồi thường thiệt hại về tài sản, cây trồng, vật nuôi trên đất và được miễn tiền thuê đất, tiền thuế sử dụng đất trong thời gian ngừng sử dụng đất.
2. Tổ chức sử dụng đất có thời hạn phải phục hồi lại đất, nếu làm thay đổi trạng thái địa hình bề mặt, chiều sâu lòng đất và phải hoàn thổ trước khi trả lại đất. Trường hợp khi trả lại đất mà không thể tiếp tục sử dụng được theo mục đích trước lúc thu hồi thì phải bồi thường bằng tiền để khôi phục lại đất theo trạng thái ban đầu; mức bồi thường bằng 30% giá đất cùng loại, cùng vị trí, cùng khu vực.
3. Trường hợp diện tích đất còn lại của thửa đất bị thu hồi không đảm bảo diện tích tối thiểu quy định tại Điều 11, Điều 12 Quyết định số 15/2010/QĐ-UBND ngày 09/8/2010 của UBND tỉnh, hoặc có hình dạng đặc biệt thì được bồi thường toàn bộ phần diện tích đất, tài sản gắn liền với đất đó (đối tượng bị thu hồi đất phải có đơn đề nghị thu hồi) và chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả.
a) Đối với dự án không sử dụng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước thì phần diện tích đất này chủ đầu tư được quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.
b) Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý hoặc gộp phần diện tích của các thửa đất còn lại thành thửa đất mới để giao cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng.
4. Trường hợp diện tích đất còn lại của thửa đất bị thu hồi và các thửa đất, tài sản trên đất nằm ngoài phạm vi thu hồi đất nhưng bị ảnh hưởng khi thực hiện dự án mà không thể tiếp tục sử dụng được theo mục đích sử dụng cũ, phải chuyển mục đích sử dụng thì được hỗ trợ về công cải tạo đất, di chuyển tài sản (nếu có) do phải chuyển mục đích sử dụng đất (việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch). Mức hỗ trợ bằng 20% giá đất cùng loại, cùng vị trí, cùng khu vực.