Điều 12. Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất (cụ thể Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 20 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP)
1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp quy định tại Điều 13 của quy định này) thì được hỗ trợ như sau:
a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian sáu (06) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở, và trong thời gian mười hai (12) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến địa bàn các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc điều kiện đặc biệt khó khăn (các huyện Sìn Hồ, Mường Tè, các xã thực hiện chương trình 135 của Chính phủ thuộc các huyện, thị xã) thì thời gian hỗ trợ là hai mươi bốn (24) tháng;
b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian mười hai (12) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở, và trong thời gian hai mươi bốn (24) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc điều kiện đặc biệt khó khăn (các huyện Sìn Hồ, Mường Tè, các xã thực hiện chương trình 135 của Chính phủ thuộc các huyện, thị xã) thì thời gian hỗ trợ là ba mươi sáu (36) tháng;
c) Mức hỗ trợ:
Mức hỗ trợ được tính bằng: (số nhân khẩu) x (30kg gạo/tháng) x (đơn giá gạo) x (thời gian hỗ trợ).
Trong đó: Đơn giá gạo được áp dụng theo giá gạo tẻ thường theo báo cáo giá thị trường tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường (đơn giá lấy theo báo cáo giá hàng tháng của Sở Tài chính);
d) Thời điểm chi trả hỗ trợ theo quy định tại Điểm a và b Khoản này là một (01) lần cùng thời gian chi trả bồi thường, hỗ trợ;
đ) Việc xác định diện tích đất bị thu hồi từ 30% đến 70% và trên 70% diện tích đất nông nghiệp quy định tại Điểm a và b Khoản này được thực hiện như sau:
- Đối với nơi đã được đo đạc bản đồ địa chính thì Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ hồ sơ đo đạc địa chính để xác nhận diện tích đất đang sử dụng của đối tượng bị thu hồi đất, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, xác định tỷ lệ phần trăm (%) diện tích đất bị thu hồi để tính hỗ trợ.
- Đối với nơi chưa được đo đạc bản đồ địa chính (chưa có hồ sơ địa chính) thì đối tượng có đất bị thu hồi tự kê khai toàn bộ diện tích đất đang sử dụng, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm xác nhận và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai, xác nhận đó. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ diện tích đất do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận, tính toán tỷ lệ phần trăm (%) diện tích đất bị thu hồi để hỗ trợ.
2. Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh, thì được hỗ trợ một (01) lần bằng 30% một (01) năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của ba (03) năm liền kề trước đó và phải được cơ quan thuế nơi tổ chức, hộ sản xuất kinh doanh nộp thuế xác nhận.
3. Đối tượng có đất, tài sản trên đất bị thu hồi được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất kinh doanh dịch vụ công, thương nghiệp. Mức hỗ trợ bằng tiền một (01) lần là 3.000.000 đồng đối với hộ gia đình có đến năm (05) khẩu, từ khẩu thứ sáu (06) cứ tăng lên một (01) khẩu được hỗ trợ thêm 500.000 đồng.
4. Trường hợp người sử dụng đất bị thu hồi nhiều lần
Trường hợp đối tượng có đất, tài sản trên đất bị thu hồi trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà diện tích thu hồi lần đầu chưa đến 30% diện tích đất đang sử dụng hoặc bị thu hồi nhiều lần thuộc một dự án hoặc nhiều dự án khác nhau thì được cộng dồn diện tích đất đã bị thu hồi để xác định tỷ lệ thu hồi đất so với diện tích đất nông nghiệp được giao, để làm căn cứ tính toán các khoản hỗ trợ theo quy định. Thời điểm tính cộng dồn đất trồng cây hàng năm được thực hiện kể từ ngày 01/10/2009 (ngày Nghị định số 69/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành). Trường hợp đã được hỗ trợ ở dự án trước thì lần sau chỉ được hỗ trợ phần chênh lệnh giữa các mức.