Điều 13. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở (cụ thể Khoản 1, 2 Điều 21 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP)
1. Đối tượng có đất khi bị Nhà nước thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở của thửa đất đó theo giá đất được Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định; diện tích đất được hỗ trợ bằng tiền là diện tích thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không quá diện tích theo quy định sau:
a) Đất đô thị: 525,0m2 đối với khu vực trong phạm vi quy hoạch xây dựng đô thị; 1.000,0m2 đối với khu vực ngoài phạm vi quy hoạch đô thị thuộc phường, thị trấn; 1.250,0m2 đối với đất tại thôn, bản thuộc phường, thị trấn nhưng xa trung tâm quy hoạch xây dựng, xa trục đường giao thông chính;
b) Đất nông thôn: 1.500,0m2 đối với đất tại các khu trung tâm thị tứ, trung tâm xã, khu thương mại và dịch vụ, du lịch, khu công nghiệp, khu chế xuất, chợ theo quy hoạch được phê duyệt có khả năng sinh lợi; 2.000,0m2 đối với các khu vực còn lại.
2. Đối tượng có đất khi bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; những thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, tiếp giáp với ranh giới khu dân cư, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 40% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo giá đất được Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định và công bố hàng năm; diện tích được hỗ trợ bằng tiền là diện tích thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không quá năm lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
a) Giá đất ở trung bình là giá trung bình của các thửa đất ở liền kề theo bảng giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành. Trường hợp khu vực thu hồi không có giá đất ở thì giá đất ở trung bình được xác định là giá đất ở bình quân của các thửa đất có nhà ở gần nhất trong bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
b) Xác định ranh giới khu dân cư
Đối với những nơi đã có quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì căn cứ vào quy hoạch đó để xác định. Đối với những nơi chưa có quy hoạch khu dân cư nhưng đã được công nhận là khu dân cư cũ, việc xác định ranh giới của khu dân cư được xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng liền kề các thửa đất có nhà ở cùng khu dân cư.