Điều 12: Với chức năng kiểm soát thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, đảm bảo an toàn tài sản và kiểm tra đảm bảo số liệu khớp đúng giữa thực tế với chứng từ, sổ sách trong máy tính, bộ phận kiểm soát thực hiện nhiệm vụ sau đây:
1. Bảng kê thu, chi tiền mặt, phiếu xuất nhập Quỹ ĐHTM được đưa từ thủ quỹ, thủ kho sang kiểm soát, kiểm tra các yếu tố;
Thực sự có thu (chi) tiền mặt ở Quỹ nghiệp vụ hoặc xuất nhập tiền mặt ở Quỹ điều hoà tiền mặt hay không? Loại trừ trường hợp thu (chi) khống;
Kiểm tra tính chất hợp lý của cơ cấu các loại tiền mặt chi ra đúng theo quy định và phù hợp với tính chất của khoản chi hay không;
Đảm bảo tính chính xác của việc nhập số liệu từ chứng từ vào máy;
Trả lời kết quả kiểm soát và giao chứng từ lại cho thủ quỹ, thủ kho tiền;
2. Mỗi khi chuẩn bị xuất hoặc nhập các quỹ và tài sản bảo quản trong kho tiền, kiểm soát phải chú ý: Chỉ sau khi đã làm xong thủ tục bàn giao chìa khoá cửa kho tiền và nhập các thông tin chính xác về bàn giao chìa khoá cửa kho tiền (của cả 3 thành viên Ban quản lý kho tiền) vào sổ bàn giao chìa khoá cửa kho tiền; đăng ký đầy đủ, chính xác các yếu tổ vào sổ "Đăng ký vào kho tiền"... mới được trả lời kết quả kiểm soát và các chứng từ có liên quan cho thủ kho tiền, quy trình nghiệp vụ mới tiếp tục được thực hiện... Kiểm tra đối chiếu thông tin lưu giữ trong máy có khớp đúng với số liệu ở sổ theo dõi ghi chép ký nhận bên ngoài;
3. Cập nhật thông tin vào sổ thiếu mất tiền;
4. Cuối ngày sau khi kiểm kê Quỹ nghiệp vụ, lập sổ kiểm kê các loại tiền tồn Quỹ nghiệp vụ và xử lý như đối với điểm 2 Điều 8 Mục III đã quy định trên;
5. Cuối tháng lập sổ kiểm kê các loại tiền tồn Quỹ điều hoà tiền mặt và xử lý như đối với điểm 2 Điều 11 Mục IV đã quy định ở trên;
6. Mỗi khoản thu (chi) tiền mặt ở Quỹ nghiệp vụ, mỗi lần xuất nhập Quỹ ĐHTM, kiểm soát phải theo dõi đảm bảo xử lý đúng quy trình đã nêu ở mục III, mục IV trên đây. Mọi sự mất mát, thiếu hụt tài sản do làm sai quy trình nghiệp vụ quy định, người kiểm soát cũng phải chịu trách nhiệm liên đới.