Điều 14. Quy định về quyền sử dụng đất - mặt nước
1. Đối với nhà đất không thuộc diện Nhà nước trực tiếp quản lý (nguồn gốc không thuộc sở hữu nhà nước), Nhà nước sẽ giao cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức sử dụng để xây dựng nhà ở, công trình. Cụ thể như sau:
a) Thửa đất đã được sử dụng cất nhà ở, công trình trước ngày 15/10/1993 thì không thu tiền sử dụng đất, không phân biệt đối tượng đang sử dụng là người sử dụng trước ngày 15/10/1993 hay sau ngày 15/10/1993;
b) Thửa đất đã được sử dụng cất nhà ở, công trình từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, thu 50% tiền sử dụng đất;
c) Thửa đất được sử dụng cất nhà ở, công trình sau ngày 01/7/2004 thu 100% tiền sử dụng đất.
2. Đối với nhà, đất có nguồn gốc do nhà nước trực tiếp quản lý (nhà đất thuộc sở hữu nhà nước), chính sách về quyền sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Trường hợp nhà đất mà nhà nước đã cho cá nhân, hộ gia đình thuê làm nhà ở thì được xem xét hoá giá theo quy định pháp luật;
b) Các trường hợp nhà đất thuộc sở hữu nhà nước không thuộc điểm a khoản 2 Điều này sẽ được nhà nước giao hoặc cho thuê đất theo quy định pháp luật về đất đai.
3. Thời hạn giao đất, chuyển nhượng (trong trường hợp hoá giá) hoặc cho thuê đất theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này là thời hạn sử dụng đất theo quy định tại Điều 13 của Quy định này.
4. Giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, tính thuế chuyển quyền sử dụng đất được xác định theo giá đất ở của cùng tuyến lộ, đường giao thông do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hằng năm.