Điều 8. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại
1. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại thực hiện theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và Điều 5 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT được quy định cụ thể như sau:
a) Giá đất để tính bồi thường quy định tại Điều 11 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và công bố áp dụng vào ngày 01 tháng 01 hàng năm;
b) Trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất do UBND tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất phổ biến trên thị trường trong điều kiện bình thường, thì UBND cấp huyện có trách nhiệm xác định lại và có văn bản báo cáo UBND tỉnh thông qua Sở Tài chính. Sở Tài chính chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thuế, Sở Xây dựng thẩm định, báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá các loại đất.
2. Chi phí đầu tư vào đất còn lại:
a) Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất (sau đây gọi tắt là Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT);
b) Đối với những trường hợp đủ cơ sở xác định thực tế có chi phí đầu tư vào đất, nhưng người sử dụng đất không còn lưu giữ hồ sơ, chứng từ về chi phí đã đầu tư vào đất thì thực hiện bồi thường theo quy định sau:
- Người bị thu hồi đất kê khai chi phí thực tế đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng; xác định mức chi phí đã thu hồi được và chi phí chưa thu hồi được;
- Tổ chức thực hiện bồi thường tiến hành kiểm kê, xác định khối lượng bị thiệt hại; tổng hợp vào phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt
3. Giải quyết việc thực hiện bồi thường chậm được quy định như sau:
a) Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức thực hiện bồi thường hoặc do người bị thu hồi đất gây ra thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP;
b) Trường hợp giá đất không thay đổi, nếu quá 30 ngày kể từ ngày có quyết định bồi thường thiệt hại cho từng hộ của cấp có thẩm quyền mà Tổ chức thực hiện bồi thường chưa thông báo chi trả tiền bồi thường hoặc chi trả chậm quá 07 ngày so với thời gian của thông báo thì phải trả thêm tiền lãi cho các hộ theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Thời gian bắt đầu tính tiền lãi từ ngày thứ 31 kể từ ngày có quyết định bồi thường đến ngày có thông báo chi trả tiền đối với trường hợp thông báo chậm; từ ngày thứ 8 kể từ ngày nhận tiền theo thông báo đến ngày người bị thu hồi nhận được tiền bồi thường, hỗ trợ đối với trường hợp chi trả bồi thường chậm.
Tiền lãi trả cho người bị thu hồi đất do Tổ chức thực hiện bồi thường thanh toán nếu chủ đầu tư đã chuyển đủ kinh phí vào tài khoản của Tổ chức thực hiện bồi thường và sẽ do chủ đầu tư thanh toán nếu chưa chuyển đủ kinh phí vào tài khoản của Tổ chức thực hiện bồi thường;
c) Bồi thường chậm do Tổ chức thực hiện bồi thường gây ra được xác định trong trường hợp đã có quyết định bồi thường mà tiến hành bồi thường chậm so với thời gian quy định tại Quy định này. Người đứng đầu của Tổ chức thực hiện bồi thường phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước UBND cùng cấp về thực hiện bồi thường chậm.
Trường hợp Tổ chức thực hiện bồi thường đã tiến hành đầy đủ các thủ tục và đã mời người bị thu hồi đất đến để chi trả tiền bồi thường trong thời gian quy định nhưng người bị thu hồi đất không nhận tiền bồi thường thì được xác định bồi thường chậm là do người bị thu hồi đất gây ra.