Điều 62. Lập, thẩm tra, phê duyệt và trích chuyển kinh phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Việc phê duyệt dự toán chi phí phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, Điều 24 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Thông tư số 57/2010/TT-BTC.
Tổng kinh phí được duyệt không vượt quá 2% tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án.
2. Trường hợp tổng mức dự toán chi phí bồi thường, hỗ trợ của dự án ghi trong Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt (bao gồm mức dự phòng phí) có phát sinh tăng, giao cơ quan tài chính chủ trì trình UBND cùng cấp xét duyệt, điều chỉnh dự toán theo đề nghị của Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường.
3. Chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết kịp thời, đầy đủ kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, kinh phí phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án và được phép tạm ứng chi theo tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng. Việc thanh toán, quyết toán chi phí này được thực hiện hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước (ngoại trừ dự án thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách). Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về tiến độ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chậm do việc chuyển kinh phí phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không kịp thời.
4. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Thông tư số 57/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính.