Điều 28.
28.1. Khi đến hạn trả nợ, Ngân hàng được bảo lãnh phải có trách nhiệm trả nợ (gốc và lãi) cho bên cho vay:
Nếu Ngân hàng trả hết nợ vay nước ngoài (gốc và lãi) thì theo thông báo của Vụ tín dụng hoặc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước được uỷ quyền thực hiện bảo lãnh, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước hay các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi bảo quản chứng từ thế chấp tiến hành trao trả đầy đủ chứng từ thế chấp cho Ngân hàng.
Nếu Ngân hàng không trả một phần hoặc toàn bộ số nợ vay đúng hạn, Ngân hàng Nhà nước trả thay cho Ngân hàng số nợ còn thiếu, đồng thời Ngân hàng phải làm giấy nhận nợ với Ngân hàng Nhà nước số tiền trả thay đó và phải chịu lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % lãi suất mà Ngân hàng vay nước ngoài.
28.2. Trong trường hợp tái bảo lãnh: nếu Ngân hàng nhận bảo lãnh không trả một phần hoặc toàn bộ nợ thay cho khách hàng thì Ngân hàng Nhà nước trả thay cho Ngân hàng nhận bảo lãnh, đồng thời Ngân hàng nhận bảo lãnh phải làm giấy nhận nợ với Ngân hàng Nhà nước và phải chịu lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất mà khách hàng vay nước ngoài. Ngân hàng nhận bảo lãnh thực hiện các chế tài quy định tại điểm 19.2 của điều 19 đối với khách hàng của mình.
28.3. Trong thời gian các Ngân hàng chưa trả hết nợ về bảo lãnh, tái bảo lãnh cho Ngân hàng Nhà nước thì không được nhận lại chứng từ thế chấp chưa đến hạn. Những chứng từ thế chấp đến hạn thu tiền thì đựợc rút về để lấy tiền thanh toán khoản vay Ngân hàng Nhà nước nói tại điểm 28.1, 28.2 trên đây.
28.4. Sau khi nhận nợ quá hạn Ngân hàng nhận nợ phải có biện pháp tập trung mọi nguồn vốn để trả nợ. Ngân hàng Nhà nước sẽ tự động trích tài khoản tiền gửi của Ngân hàng có nợ quá hạn để thu nợ khi tài khoản tiền gửi có tiền và trong thời gian này Ngân hàng Nhà nước sẽ tạm ngừng bảo lãnh, tái bảo lãnh cho đơn vị còn nợ.