vanban.org

Điều 26. Việc thế chấp chứng từ bảo lãnh, tái bảo lãnh được thực hiện như sau: — Quyết định 23/QĐ-NH14

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/07/1997 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/09/2000 Sửa đổi, bổ sung: 263/QĐ-NH14 · 19/09/1995
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 21/02/1994 Hiệu lực 21/02/1994 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 32 năm
Quyết định số 23/QĐ-NH14 Về việc ban hành quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn nước ngoài 1994 · 23/QĐ-NH14
10/09/2000283/2000/QĐ-NHNN14Sửa đổi Đang xem 19/09/1995263/QĐ-NH14Chưa hợp nhất 21/02/1994Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 23/QĐ-NH14 › Chương III › Điều 26
Đọc toàn văn

Điều 26. Việc thế chấp chứng từ bảo lãnh, tái bảo lãnh được thực hiện như sau:

26.1. Đăng ký trước chứng từ thế chấp.

Việc đăng ký trước chứng từ thế chấp được thực hiện tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc tại các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi Ngân hàng - chi nhánh của Ngân hàng mở tài khoản.

Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước , chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm kiểm soát chứng từ thế chấp. Danh mục chứng thế chấp đủ tiêu chuẩn (theo mẫu đính kèm) được đưa vào theo dõi ở máy vi tính tập trung qua bộ phậm TPR của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và được truyền qua mạng vi tính về Vụ tín dụng.

26.2. Khi có nhu cầu xin bảo lãnh, tái bảo lãnh, các Ngân hàng lập danh mục chứng từ đủ tiêu chuẩn thế chấp đã được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận và lưu vào máy tính gửi kèm đơn xin bảo lãnh, tái bảo lãnh cho Ngân hàng Nhà nước.

26.3. Khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bảo lãnh, tái bảo lãnh, ngân hàng được bảo lãnh, tái bảo lãnh giao nộp chứng từ thế chấp (bản gốc) cho Ngân hàng Nhà nước nơi Ngân hàng - Chi nhánh của Ngân hàng đăng ký chứng từ thế chấp. Việc giao nhận, lưu giữ, bảo quản chứng từ thế chấp thực hiện như đối với chứng từ có giá khác.

Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản chứng từ thế chấp được lưu giữ. Nếu để xẩy ra tình trạng mất mát hư hỏng chứng từ thế chấp, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại vật chất.

Trong thời gian được bảo lãnh, tái bảo lãnh, nếu thời hạn hiệu lực của chứng từ hết hạn, thì Ngân hàng phải đổi chứng từ thế chấp khác đủ tiêu chuẩn, còn thời hạn thanh toán. Trong trường hợp Ngân hàng không đủ chứng từ thế chấp để đổi thì phải chịu phạt, mức phạt bằng 1%/tháng tính theo giá trị chứng từ thế chấp thiếu.