Điều 18. Hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ; Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương
Các hình thức khen thưởng Huân, Huy chương, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ thực hiện theo các Điều, Khoản của Luật Thi đua, Khen thưởng. Phạm vi quy chế này chỉ đề cập một số nội dung mới theo Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ và Thông tư số 02/2011/TT-BNV ngày 24/01/2011 của Bộ Nội vụ.
a) Các tập thể không thuộc đối tượng xét tặng cờ thi đua, danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”, hàng năm khi xem xét đề nghị tặng thưởng “Bằng khen Thủ tướng Chính phủ”, “Huân chương các loại, quy định tại khoản 2, Điều 71; điểm a khoản 3, Điều 42, 45, khoản 2 các Điều 43, 44, 46, 47 Luật Thi đua, Khen thưởng thì được căn cứ vào thành tích của các đơn vị trực thuộc trực tiếp, để xem xét khen thưởng cụ thể là: trong khoảng thời gian xét khen thưởng (ví dụ 05 năm) thì hàng năm phải có từ 2/3 trở lên số đơn vị trực thuộc trực tiếp phải đạt danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến”, “Đơn vị tiên tiến” trở lên và tập thể đó phải đạt các hình thức khen thưởng tương đương như hình thức khen thưởng đề nghị trở lên.
b) Trong một năm, không trình hai hình thức khen thưởng cấp nhà nước (“Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”, Huân chương các loại, danh hiệu “Chiến sỹ thi đua toàn quốc” và danh hiệu Anh hùng) cho một đối tượng (trừ khen thưởng đột xuất).
c) Các trường hợp đề nghị tặng thưởng Huân chương có tiêu chuẩn liên quan đến ''Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ'', thì sau 2 năm được tặng ''Bằng khen Thủ tướng Chính phủ'' mới đề nghị xét tặng Huân chương.
d) Việc thay thế tiêu chí “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” cho “Cờ thi đua của Chính phủ” và ngược lại đối với tập thể chỉ được thực hiện khi xét Huân chương bậc cao (Huân chương sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công) còn Huân chương lao động các mức hạng không áp dụng quy định này.