vanban.org

Điều 15. Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh — Quyết định 22/2013/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/11/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/11/2015 Thay thế: 64/2015/QĐ-UBND · 31/10/2015
Nghệ An Ban hành 18/04/2013 Hiệu lực 28/04/2013 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 7 phiên bản · 13 năm
Quyết định số 14/2024/QĐ-UBND Ban hành quy chế thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 14/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2020/QĐ-UBND Ban hành Quy chế về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 12/2020/QĐ-UBND
Quyết định số 64/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy chế về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 64/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND Ban hành Quy chế về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 22/2013/QĐ-UBND
10/11/201564/2015/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 28/04/2013Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 22/2013/QĐ-UBND › Chương III › Mục 2 › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh

1. Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh để tặng cho các tập thể, cá nhân có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thường xuyên hàng năm, theo chuyên đề (theo đợt), đột xuất hoặc trong hoạt động đối ngoại.

2. Trong một năm không xét tặng quá hai Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho một đối tượng (trừ khen thưởng đột xuất).

3. Bằng khen đối với thành tích thường xuyên: Xét tặng cho tập thể, cá nhân lập được thành tích xuất sắc, được xét tặng hàng năm cho các đối tượng, hai năm xét một lần cho 1 đối tượng vào dịp tổng kết năm công tác của cơ quan, đơn vị.

a) Xét tặng cho tập thể đạt các tiêu chuẩn sau:

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong năm; tích cực tham gia các hoạt động xã hội;

- Nội bộ đoàn kết, thực hiện tốt quy chế dân chủ, tích cực hưởng ứng và tổ chức tốt các phong trào thi đua;

- Đời sống vật chất, tinh thần trong tập thể cơ quan, đơn vị, địa phương ngày càng được đảm bảo và có chiều hướng phát triển tốt hơn;

- Thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng;

(Đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, thực hiện tốt các chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động đối với người lao động, chấp hành nghiêm quy định về bảo vệ môi trường, sinh thái).

- Liên tục 2 năm đến thời điểm đề nghị phải đạt 02 lần liên tục danh hiệu "Tập thể Lao động xuất sắc" hoặc "Đơn vị quyết thắng"; Tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh, Đoàn thể đạt xuất sắc.

b) Xét tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau:

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và thực hiện tốt nghĩa vụ công dân;

- Có phẩm chất đạo đức tốt; đoàn kết, gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đi đầu trong các phong trào thi đua. Tích cực tham gia các hoạt động xã hội;

- Tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ;

- Liên tục 2 năm đến thời điểm đề nghị, phải đạt 02 lần liên tục danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở". Nếu là Đảng viên phải là Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.  

c) Trong 1 năm, cùng một đối tượng không xét trình đồng thời vừa đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh vừa Bằng khen của Bộ trưởng (hoặc tương đương) hoặc hình thức khen thưởng cấp nhà nước; không xét tặng cho đối tượng mới được khen thưởng từ Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh trở lên của năm trước (trừ trường hợp sắp đến tuổi nghỉ hưu).

4. Bằng khen đối với thành tích theo chuyên đề (hoặc theo đợt)

a) Khi tiến hành tổng kết thi đua theo đợt hoặc theo chuyên đề do UBND tỉnh, các đơn vị phát động, việc khen thưởng chủ yếu áp dụng hình thức khen thưởng của cấp phát động, các trường hợp tiêu biểu, xuất sắc mới đề nghị cấp trên khen thưởng, trường hợp đặc biệt xuất sắc mới đề nghị tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc Huân chương lao động hạng Ba (Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba).

b) Khi tiến hành tổng kết chuyên đề Luật, pháp lệnh, các chương trình mục tiêu, các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng, của Chính phủ, của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh, UBND tỉnh...; đợt thi đua ngắn hạn, thi đua nước rút, thi đua đặc biệt, thi đua lập thành tích chào mừng ngày thành lập đơn vị và đạt giải tại các cuộc thi, hội diễn ...có thể xét tặng cho một số tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc nhưng phải thống nhất trước với Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh về chủ trương, nội dung, thời gian tổ chức và số lượng tập thể, cá nhân đề nghị khen thưởng. Không trình khen thưởng cấp nhà nước (trừ trường hợp có quy định riêng của Trung ương).

c) Về đối tượng

- Xét tặng cho tập thể, cá nhân lập được thành tích xuất sắc, trực tiếp tham gia các chuyên đề thi đua do các cấp thẩm quyền quy định và chủ yếu khen thưởng cho đối tượng trực tiếp lao động sản xuất, công tác.

- Các đối tượng khác phối hợp tham gia lãnh đạo chỉ đạo, cơ quan phối hợp, tuyên truyền và những tập thể, cá nhân cùng một lúc tham gia nhiều chuyên đề khác nhau và tổ chức tổng kết trong 1 năm thì chỉ được xét, đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh của từ 1 đến 2 trong số các chuyên đề đó cho một đối tượng.

d) Về tiêu chuẩn, số lượng

- Những chuyên đề dài hạn 5 năm trở lên do UBND tỉnh phát động (hoặc đơn vị được UBND tỉnh giao chủ trì phát động) được đề nghị từ 7-10 tập thể và 7-10 cá nhân (trừ những chuyên đề do Chính phủ, Bộ, ban, ngành Trung ương phát động quy định số lượng). Số lượng cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo việc triển khai thực hiện chuyên đề được đề nghị tối đa 30% trong tổng số cá nhân được đề nghị khen thưởng.

- Những chuyên đề ngắn hạn từ 1 năm trở xuống (ví dụ: Đợt thi đua phát động ra quân làm thuỷ lợi, Phòng chống cháy rừng, phòng chống cháy nổ, lụt bão, vệ sinh, an toàn thực phẩm, hiến máu nhân đạo...vv, được đề nghị từ 5 – 7 tập thể và 5 - 7 cá nhân.

- Tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc, tiêu biểu trong việc thực hiện Luật, pháp lệnh, các chương trình mục tiêu, các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng, của Chính phủ, của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh và UBND tỉnh ...được đề nghị từ 15 - 20 tập thể và 15 - 20 cá nhân.

- Các đơn vị nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập vào các năm chẵn (10 năm, 20 năm...) năm tròn (15 năm, 25 năm...) có thể xem xét, đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho tập thể, cá nhân có nhiều cống hiến xuất sắc (ưu tiên đối tượng sắp nghỉ hưu chưa được hình thức khen thưởng nào trong quá trình công tác, không vi phạm kỷ luật). Tùy quy mô, số lượng cán bộ, CCVC, người lao động của từng cơ quan, đơn vị để đề nghị khen thưởng cho phù hợp.

Số lượng được đề nghị từ 3 - 5 tập thể và 5 - 7 cá nhân đối với các huyện, thành, thị và các Sở ban, ngành cấp tỉnh; đối với các đơn vị trực thuộc các huyện, thành, thị, Sở ban, ngành cấp tỉnh, các doanh nghiệp và tổ chức hội được đề nghị khoảng 5-7 trường hợp (bao gồm cả tập thể và cá nhân).

5. Bằng khen đối với thành tích đột xuất

Lập được thành tích đột xuất trong công tác; có hành động dũng cảm, mưu trí cứu người, tài sản của nhà nước trong điều kiện hoả hoạn, thiên tai, địch hoạ; trực tiếp tham gia điều tra phá các vụ án quan trọng, phức tạp (thành tích lập được trong hoàn cảnh không được dự báo trước, diễn ra ngoài dự kiến kế hoạch công việc bình thường mà tập thể, cá nhân phải đảm nhận); là gương người tốt, việc tốt.

6. Khen thưởng đối ngoại

Tổ chức, cá nhân ngoài tỉnh và nước ngoài ủng hộ từ thiện, nhân đạo, đóng góp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội của tỉnh Nghệ An.

7. Các trường hợp khác do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định. Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh phối hợp với các đơn vị tham mưu trình Chủ tịch UBND tỉnh mức khen thưởng xứng đáng, phù hợp.