Điều 14. Danh hiệu thi đua thẩm quyền Thủ tướng, Chủ tịch nước
Các danh hiệu vinh dự Nhà nước, giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, Cờ thi đua của Chính phủ, Chiến sỹ thi đua toàn quốc thực hiện theo quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng. Phạm vi quy chế này chỉ đề cập một số nội dung mới theo Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ và Thông tư số 02/2011/TT-BNV ngày 24/01/2011 của Bộ Nội vụ.
1. Danh hiệu “Chiến sỹ thi đua toàn quốc”
a) Danh hiệu “Chiến sỹ thi đua toàn quốc” xét tặng cho cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu được lựa chọn trong số những cá nhân có 02 lần liên tục đạt danh hiệu “Chiến sỹ thi đua tỉnh” (cá nhân đó phải có 06 năm liên tục đạt danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở”);
b) Có đề tài, sáng kiến được Hội đồng khoa học, sáng kiến cấp tỉnh công nhận là sáng kiến có ảnh hưởng trong phạm vi toàn quốc;
c) Được các Thành viên Hội đồng Thi đua – Khen thưởng tỉnh biểu quyết tán thành từ 90% số phiếu đồng ý trở lên trên tổng số thành viên Hội đồng.
2. Cờ Thi đua của Chính phủ
a) “Cờ thi đua của Chính phủ” được xét tặng hàng năm cho các tập thể tiêu biểu, xuất sắc đạt tiêu chuẩn gồm:
- Có thành tích hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu thi đua và nhiệm vụ được giao trong năm; là tập thể tiêu biểu xuất sắc trong toàn quốc.
- Có nhân tố mới, mô hình mới tiêu biểu cho cả nước học tập.
- Nội bộ đoàn kết, đi đầu trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác.
- Lựa chọn trong số các tập thể tiêu biểu xuất sắc trong toàn quốc đã được tặng cờ thi đua của UBND tỉnh.
- Đảm bảo số lượng theo quy định của UBND tỉnh và không vượt quá 20% tổng số những tập thể được xét tặng “Cờ thi đua của UBND tỉnh”.
c) Các đơn vị được xét đề nghị “Cờ thi đua của Chính phủ” phải tham gia cụm, khối thi đua của tỉnh và các ngành, huyện.