vanban.org

Điều 13. Bồi thường, hỗ trợ đất hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ an toàn — Quyết định 2044/2005/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/01/2010 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 15/01/2010 Thay thế: 01/2010/QĐ-UBND · 05/01/2010 Sửa đổi, bổ sung: 58 /2008/QĐ-UBND · 31/10/2008
Thái Nguyên Ban hành 30/09/2005 Hiệu lực 10/10/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 9 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 24/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên · 24/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nàh nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên · 31/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên · 01/2010/QĐ-UBND
Quyết định số 2044/2005/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ · 2044/2005/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 2044/2005/QĐ-UBND › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Bồi thường, hỗ trợ đất hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ an toàn

1. Thực hiện theo Điều 16 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ và điểm 8 phần II Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính.

2. Bồi thường, hỗ trợ đất ở trong trường hợp không phải thu hồi đất để thực hiện bảo vệ hành lang lưới điện theo Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17/8/2005 của Chính phủ về thi hành Luật Điện lực.

a) Hành lang lưới điện đi qua đất ở (đi trên không) chưa có nhà nhưng Nhà nước không có quyết định thu hồi đất, chủ dự án có trách nhiệm bồi thường phần chênh lệch giữa đất ở đang sử dụng so với đất nông nghiệp do lưới điện cao áp đi qua phải chuyển mục đích. Khi đã bồi thường chênh lệch hộ gia đình chỉ được trồng cây nông nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày nhưng chiều cao phát triển tối đa không quá 4m. Trường hợp hộ gia đình tự nguyện ở lại không nhận bồi thường chênh lệch giữa đất ở và đất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng 50% so với giá đất ở và chỉ được làm nhà cao tối đa 4m.

b) Hành lang lưới điện cao áp đi qua đất ở (đi trên không) đã có nhà ở (nhà ở công trình đủ điều kiện tồn tại trong hanh lang bảo vệ an toàn thì được hỗ trợ đất ở hạn chế khả năng sử dụng, mức hỗ trợ tối đa bằng 50% giá đất ở tại vị trí hành lang lưới điện đi qua.

c) Hành lang lưới điện cao áp đi qua đất nông nghiệp không được bồi thường, hỗ trợ đất nhưng được bồi thường cây cối dưới hành lang lưới điện có khả năng phát triển cao hơn 4m.

3. Bồi thường, hỗ trợ đất ở thuộc hành lang giao thông theo lộ giới quy định tại Nghị định số 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng bộ trưởng, trước 15/10/1993 Nhà nước chưa thực hiện giải toả.

a) Nguồn gốc là đất ở hợp pháp có trước ngày 21/12/1982, Nhà nước thực hiện thu hồi, tính bồi thường theo quy định;

b) Đất ở có từ ngày 21/12/1982 đến ngày 08/01/1988, Nhà nước không thu hồi đất, bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm hạng II và hỗ trợ 50% chênh lệch giữa giá đất ở, đất nông nghiệp liền kề cùng vị trí;

c) Đất ở có từ sau ngày 08/01/1988 đến 16/6/1990, Nhà nước không thu hồi đất bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm hạng II và hỗ trợ 40% chênh lệch giữa giá đất ở với đất nông nghiệp liền kề cùng vị trí;

d) Đất ở có từ sau ngày 16/6/1990 đến trước ngày 15/10/1993, Nhà nước không thu hồi đất, bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm hạng II và hỗ trợ 30% chênh lệch giữa giá đất ở, đất nông nghiệp liền kề cùng vị trí;