Điều 11. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở
1. Thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định 197/2004/NĐ-CP, điểm 5 phần II Thông tư số 116/2004/TT-BTC.
2. Người sử dụng đất ở được bồi thường bằng tiền theo giá đất ở xác định theo khu vực, vị trí do UBND tỉnh công bố hàng năm. Trường hợp thu hồi hết diện tích đất ở phải di chuyển được bố trí tái định cư theo quy định.
3. Diện tích đất ở được xác định như sau :
a) Hộ gia đình, cá nhân đã có: Quyết định giao đất (cấp đất), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ), GCN quyền sử dụng nhà ở, đất ở ( bìa hồng)
- Diện tích đất ở là diện tích ghi trên các giấy tờ tại điểm a khoản này là chữ "T", "Thổ cư", "Đất ở", "OTC", "ONT', " ODT";
- Đất vườn, ao cùng thửa đất ở ghi trên các giấy tờ tại điểm a khoản này thuộc khu dân cư, theo điểm b, c khoản 1 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ- CP được xác định lại là đất ở;
- Trường hợp có Quyết định giao đất (cấp đất) vừa có đất ở vừa có đất vườn nhưng giấy tờ không ghi rõ diện tích đất ở, đất vườn thì đất ở theo diện tích được xác định lại.
- Trường hợp các giấy tờ quy định tại tiết 1 điểm a khoản 3 Điều này cấp không đúng theo quy định của pháp luật thì cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi, trong trường hợp này diện tích đất ở là diện tích được xác định lại theo quy định.
b) Hộ gia đình, cá nhân không có các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 3 Điều này nhưng hiện trạng vẫn sử dụng làm nhà ở.
- Nguồn gốc là đất ở của hộ gia đình, cá nhân; diện tích đất ở được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.
- Nguồn gốc trước đây là đất của cơ quan Nhà nước nhưng thực tế cơ quan Nhà nước chưa quản lý hoặc tự chia cắt cho các hộ gia đình, cá nhân mượn làm nhà thì xác định: Khuôn viên đất có nhà khu vực đô thị không quá 120m2/hộ, khu vực nông thôn không quá 200m2/hộ thì xác định toàn bộ là đất ở; nếu lớn hơn diện tích này thì diện tích còn lại tính là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm hạng II (không bao gồm các khoản hỗ trợ);
- Nguồn gốc trước đây là đất chuyên dùng cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp; các hộ mua nhà thanh lý để ở (tiền thanh lý đã nộp cho cơ quan, doanh nghiệp) được xác định: Khuôn viên đất có nhà thanh lý khu vực đô thị không quá 120m2/hộ, khu vực nông thôn không quá 200m2/hộ thì xác định toàn bộ là đất ở. Khuôn viên đất lớn hơn quy định này thì diện tích đất ở là diện tích có nhà thanh lý, trường hợp không còn hiện trạng nhà thanh lý thì xác định là 120m2/hộ đối với khu vực đô thị, 200m2/hộ khu vực nông thôn; nếu lớn hơn diện tích này thì diện tích còn lại tính là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm hạng II (không bao gồm các khoản hỗ trợ).
c) Nguồn gốc là đất vườn, đất màu không cùng thửa với đất ở, hộ gia đình cá nhân đã tự chuyển mục đích làm nhà ở, khuôn viên đất có nhà khu vực đô thị không quá 120m2/hộ, khu vực nông thôn không quá 200m2/hộ thì xác định toàn bộ là đất ở; nếu lớn hơn diện tích này thì diện tích còn lại tính là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm hạng II (không bao gồm các khoản hỗ trợ) .
4. Mức tính bồi thường, hỗ trợ đất ở như sau :
a) Tính bồi thường đất ở theo quy định cho diện tích đất ở quy định tại điểm a, tiết 1 điểm b khoản 3 Điều này.
b) Tính hỗ trợ cho diện tích đất ở quy định tại tiết 2 điểm b khoản 3 Điều này như sau:
- Thời điểm trước 15/10/1993 mà nhà ở làm trước khi thông báo thực hiện dự án của cấp có thẩm quyền thì tính hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường ;
- Thời điểm từ 15/10/1993 đến trước 01/7/2004 mà nhà ở làm trước khi thông báo thực hiện dự án của cấp có thẩm quyền thì tính, hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường.
c) Tính bồi thường, hỗ trợ cho diện tích đất ở được xác định tại tiết 3 điểm b và điểm c khoản 3 Điều này như sau:
- Thời điểm trước 15/10/1993, tính bồi thường theo quy định;
- Thời điểm từ 15/10/1993 đến trước 01/7/2004, tính hỗ trợ bằng 60% mức bồi thường.