Điều 33. Đóng dấu cơ quan và dấu chỉ mức độ khẩn, mật
1. Nghiêm cấm việc đóng dấu khống chỉ.
2. Dấu đóng phải rõ ràng, ngay ngắn, đúng chiều và dùng đúng mực dấu quy định.
3. Đóng dấu trên văn bản chính thức:
a) Văn thư chỉ đóng dấu khi văn bản đúng thể thức và có chữ ký của người có thẩm quyền ký văn bản;
b) Khi dấu đóng lên chữ ký thì dấu phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái.
4. Đóng dấu vào phụ lục kèm theo:
a) Đóng dấu treo tại tên đơn vị vào góc trên bên trái phụ lục trùm lên hàng chữ đầu của trang đầu tiên khoảng 1/3 đường kính con dấu;
b) Nếu văn bản, phụ lục có từ hai tờ trở lên phải đóng dấu giáp lai. Dấu được đóng vào khoảng giữa lề phải của văn bản.
5. Đóng dấu chỉ mức độ mật thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP.
6. Đóng dấu chỉ mức độ khẩn thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP.
7. Việc đóng dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản, tài liệu chuyên ngành được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành.