vanban.org

Điều 48. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại: — Quyết định 14/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 04/12/2008 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 04/12/2008 Thay thế: 51/2008/QĐ-UBND · 24/11/2008
Hậu Giang Ban hành 12/05/2006 Hiệu lực 22/05/2006 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 51/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 51/2008/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 14/2006/QĐ-UBND
04/12/200851/2008/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 22/05/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2006/QĐ-UBND › Chương VI › Điều 48
Đọc toàn văn

Điều 48. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại:

1. Người bị thu hồi đất nếu chưa đồng ý với quyết định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thì được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người bị thu hồi đất vẫn phải chấp hành quyết định thu hồi đất, giao đất và bàn giao mặt bằng dự án đúng kế hoạch và thời gian đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định.

2. Giải quyết khiếu nại.

2.1. Đối với các quyết định do Ủy ban nhân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường.

- Trường hợp các khiếu nại do điều tra nhầm hoặc thiếu, hồ sơ kỹ thuật đất chưa chính xác, tính toán sai số học, giá bồi thường nhà cửa vật kiến trúc và các chính sách hỗ trợ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Ban bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng cấp huyện kiểm tra lại và gửi cho phòng Tài chính- Kế hoạch thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định bổ sung trong nguồn dự phòng của phương án bồi thường. Nếu người khiếu nại không đồng ý, giải quyết theo trình tự luật khiếu nại tố cáo.

- Trường hợp các khiếu nại về quyết định thu hồi đất, giá bồi thường về đất, chính sách tái định cư, Thanh tra cấp huyện kết hợp với Ban bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng cấp huyện và phòng Tài chính Kế hoạch cấp huyện làm tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định giải quyết lần đầu. Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết, thì có quyền khởi kiện tại Tòa án Nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trường hợp khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại tố cáo. Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng, phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

2.2. Đối với các quyết định do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án bồi thường.

- Trường hợp các khiếu nại do điều tra nhầm hoặc thiếu, hồ sơ kỹ thuật đất chưa chính xác, tính toán sai số học, giá bồi thường nhà cửa vật kiến trúc và các chính sách hỗ trợ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Ban bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng cấp huyện (dự án do cấp huyện làm chủ đầu tư) hoặc tỉnh (dự án do tỉnh hoặc trung ương làm chủ đầu tư) kiểm tra lại và gửi Hội đồng thẩm định tỉnh thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định bổ sung trong nguồn dự phòng của phương án bồi thường. Nếu người khiếu nại không đồng ý, giải quyết theo trình tự Luật Khiếu nại tố cáo.

- Trường hợp các khiếu nại về quyết định thu hồi đất thì UBND cấp huyện và thị xã giải quyết theo thẩm quyền. Trường hợp khiếu nại về giá bồi thường đất, chính sách tái định cư, Thanh tra tỉnh kết hợp với UBND cấp huyện và thị xã (các dự án cấp huyện, thị xã làm chủ đầu tư) hoặc kết hợp với Ban bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng tỉnh (các dự án tỉnh hoặc trung ương làm chủ đầu tư) làm tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh giải quyết lần đầu. Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết, thì có quyền khởi kiện tại Tòa án Nhân dân.

2.3. Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về bồi thường giải tỏa là ba mươi (30) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định bồi thường giải tỏa. Trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án Nhân dân./.