Điều 14. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở:
1. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
2. Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở theo quy định; trường hợp diện tích đất ở còn lại của người sử dụng đất sau khi nhà nước thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định thì phải sắp xếp lại việc xây dựng công trình phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc giao cho Nhà nước phần diện tích đất ở còn lại theo giá tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.
3. Diện tích đất ở là diện tích ghi trên các loại giấy tờ quy định tại Điều 8 của quy định này.
4. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn ao: tính theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành hạn mức công nhận đất ở.
Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định theo hạn mức giao đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành nhưng khi được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì phải nộp tiền sử dụng đất theo Điều 80 Nghị định 181/NĐ-CP của Chính phủ. Trường hợp chưa nộp tiền sử dụng đất thì bồi thường theo giá đất ở nhưng phải khấu trừ lại tiền sử dụng đất nộp cho Nhà nước.