Điều 5. Thuê trụ sở làm việc, tài sản không phải là trụ sở làm việc phục vụ hoạt động cơ quan nhà nước
1. Điều kiện thuê trụ sở làm việc, tài sản không phải là trụ sở làm việc, lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ, giá thuê trụ sở làm việc, tài sản không phải là trụ sở làm việc thực hiện theo khoản 1, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 thuộc Điều 7, Điều 8 của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Thẩm quyền quyết định thuê trụ sở làm việc:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thuê trụ sở làm việc đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập theo đề nghị của các sở, ban, ngành chủ quản sau khi có ý kiến của Giám đốc Sở Xây dựng và Giám đốc Sở Tài chính có giá trị tiền thuê từ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/năm trở lên. Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập đi thuê trụ sở làm việc phải thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá thuê để làm cơ sở thỏa thuận với nhà cung cấp hoặc áp dụng theo hình thức đấu thầu.
b) Các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính chịu trách nhiệm quyết định về việc thuê trụ sở làm việc có giá trị tiền thuê dưới 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/năm.
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đối với các cơ quan nhà nước thuộc huyện quản lý theo đề nghị của cơ quan, đơn vị và Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch có giá trị tiền thuê dưới 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/năm.
d) Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính chịu trách nhiệm quyết định về việc thuê trụ sở làm việc có giá trị tiền thuê dưới 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/năm. Kinh phí thuê trụ sở do đơn vị bảo đảm theo Điều 49 của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP của Chính phủ.
3. Thẩm quyền quyết định thuê tài sản không phải là trụ sở làm việc:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thuê tài sản là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập theo đề nghị của sở, ban, ngành chủ quản sau khi có ý kiến của Giám đốc Sở Tài chính có giá trị tiền thuê từ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/năm trở lên/01 đơn vị tài sản hoặc một nhóm tài sản. Cơ quan nhà nước đi thuê tài sản không phải là trụ sở làm việc phải thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá thuê để làm cơ sở thỏa thuận với nhà cung cấp hoặc áp dụng theo hình thức đấu thầu.
b) Các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập chịu trách nhiệm quyết định về việc thuê tài sản không phải là trụ sở làm việc có giá trị tiền thuê dưới 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/năm/01 đơn vị tài sản hoặc một nhóm tài sản.
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thuê tài sản là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải đối với các cơ quan nhà nước thuộc huyện quản lý theo đề nghị của cơ quan, đơn vị và Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch có giá trị tiền thuê dưới 100.000.000 đồng/năm (một trăm triệu đồng)/01 đơn vị tài sản hoặc một nhóm tài sản.
d) Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính chịu trách nhiệm quyết định về việc thuê trụ sở làm việc có giá trị tiền thuê dưới 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)/năm. Kinh phí thuê trụ sở do đơn vị bảo đảm theo Điều 49 của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP của Chính phủ.
4. Kinh phí thuê trụ sở làm việc và tài sản không phải là trụ sở làm việc quy định tại điểm a, điểm b, điểm c thuộc khoản 2, khoản 3 của Điều này được bố trí trong dự toán ngân sách giao cho cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
5. Việc thuê tài sản phục vụ hoạt động của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp do người đứng đầu của tổ chức quyết định theo quy định của pháp luật về dân sự và điều lệ của tổ chức. Tiền thuê tài sản được chi trả từ kinh phí của tổ chức.