Điều 11. Tiêu hủy tài sản nhà nước
1. Tiêu hủy tài sản nhà nước là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xóa bỏ sự tồn tại của tài sản nhà nước. Tài sản nhà nước bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật.
2. Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm tài sản việc tiêu hủy được thực hiện theo các hình thức: sử dụng các loại hóa chất, sử dụng biện pháp cơ học, hủy đốt, hủy chôn, hình thức khác theo quy định của pháp luật.
3. Việc tiêu hủy tài sản phải được lập biên bản, nội dung chủ yếu gồm có: căn cứ và lý do thực hiện tiêu hủy; thời gian, địa điểm, thành phần tham gia tiêu hủy; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của tài sản tại thời điểm tiêu hủy, hình thức tiêu hủy và các nội dung khác có liên quan.
4. Thẩm quyền quyết định:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định tiêu hủy tài sản của cơ quan nhà nước cấp tỉnh có nguyên giá theo sổ kế toán từ 500.000.0000 đồng (năm trăm triệu đồng) trở lên/01 đơn vị tài sản hoặc một nhóm tài sản.
b) Thủ trưởng cơ quan hành chính cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập quyết định tiêu hủy tài sản của cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 500.000.0000 đồng (năm trăm triệu đồng)/01 đơn vị tài sản hoặc một nhóm tài sản.
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định tiêu hủy tài sản của cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 500.000.0000 đồng (năm trăm triệu đồng)/01 đơn vị tài sản hoặc một nhóm tài sản.
5. Kinh phí tiêu hủy tài sản nhà nước được quy định tại khoản 3 Điều này do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Riêng đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính do đơn vị bảo đảm theo Điều 50 của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP của Chính phủ.