Điều 23. Điều kiện để được bồi thường đất
Người bị Nhà nước thu hồi đất, có một trong các điều kiện sau đây thì được bồi thường:
1. Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật về đất đai.
2. Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được UBND cấp xã xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây:
a) Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993, do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính.
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; bao gồm:
- Giấy tờ thừa kế theo qui định của pháp luật.
- Giấy tờ tặng, cho nhà đất có công chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã tại thời điểm tặng cho.
- Giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất của cơ quan, tổ chức giao nhà có xác nhận của UBND cấp xã.
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15/10/1993.
đ) Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo qui định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1, 2, 3 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
6. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng.
7. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.
8. Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
a) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
b) Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp, tiền trả cho việc chuyển nhượng không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
c) Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân.
9. Trường hợp đất ở được giao, cấp trái thẩm quyền, tại thời điểm giao, cấp đất không vi phạm quy hoạch và có phiếu thu tiền chứng minh:
- Trường hợp được giao đất, cấp đất sai thẩm quyền trước ngày 15/10/1993 và người được giao, được cấp đã nộp tiền sử dụng đất thì được bồi thường với diện tích, loại đất được giao.
- Trường hợp được giao đất, cấp đất sai thẩm quyền sau ngày 15/10/1993 đến ngày 01/7/2004 và người được giao, được cấp đã nộp tiền sử dụng đất thì được bồi thường với diện tích, loại đất được giao theo hạn mức giao đất ở, quy định tại Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND ngày 04/6/2009 của UBND tỉnh Hưng Yên ban hành quy định hạn mức giao đất ở và hạn mức công nhận diện tích đất ở trên địa bàn tỉnh. Phần diện tích giao, cấp vượt ngoài hạn mức được hỗ trợ 50% đơn giá đất ở liền kề.
10. Các trường hợp sử dụng đất đã xây dựng nhà ở trên đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và tại thời điểm sử dụng đất không vi phạm quy hoạch, không lấn chiếm thì thực hiện như sau:
- Nếu sử dụng trước ngày 15/10/1993, được bồi thường trong hạn mức giao đất ở tại Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND. Phần diện tích vượt ngoài hạn mức được hỗ trợ 50% đơn giá đất ở liền kề.
- Nếu sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 được bồi thường trong hạn mức giao đất ở tại Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND nhưng phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP. Phần diện tích vượt ngoài hạn mức được bồi thường, hỗ trợ theo đơn giá đất nông nghiệp.
11. Các trường hợp đặc biệt khác UBND cấp huyện báo cáo UBND tỉnh (qua Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp) xem xét quyết định.