Điều 10. Thẩm quyền quyết định điều chuyển tài sản nhà nước
1. Các trường hợp điều chuyển tài sản nhà nước được thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 52/2009/NĐ-CP của Chính Phủ, cụ thể như sau:
a) Từ nơi thừa sang nơi thiếu theo tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
b) Để mang lại hiệu quả cao hơn.
c) Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước nhưng không có nhu cầu sử dụng thường xuyên.
d) Tài sản nhà nước bị thu hồi; tài sản bị tịch thu hoặc xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
đ) Các trường hợp đặc biệt khác theo quy định của pháp luật.
2. Thẩm quyền điều chuyển tài sản nhà nước:
a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định điều chuyển tài sản là trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất (bao gồm cả quyền sử dụng đất), phương tiện giao thông vận tải, tài sản khác có nguyên giá theo sổ sách kế toán trên 100 triệu đồng tính cho một đơn vị tài sản (hoặc một lô tài sản) giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương quản lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Tài chính quyết định điều chuyển tài sản khác (trừ trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất, quyền sử dụng đất, phương tiện giao thông vận tải) có nguyên giá theo sổ sách kế toán dưới 100 triệu đồng tính cho một đơn vị tài sản (hoặc một lô tài sản) giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác ngành, khác huyện.
b) Thủ trưởng các sở, ban, ngành, tổ chức, đơn vị cấp tỉnh và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định điều chuyển tài sản nhà nước (trừ trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất, quyền sử dụng đất, phương tiện giao thông vận tải) có nguyên giá theo sổ sách kế toán dưới 100 triệu đồng tính cho một đơn vị tài sản (hoặc một lô tài sản) giữa các đơn vị thuộc phạm vi quản lý.