vanban.org

Điều 11. Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn — Quyết định 02/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/12/2009
Khánh Hòa Ban hành 15/01/2007 Hiệu lực 25/01/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 02/2007/QĐ-UBND › Chương II › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Trường hợp người bị thu hồi đất không có một trong những loại giấy tờ quy định tại khoản 1,2 và 3 Điều 8 của Quy định này thì phải làm bản kê khai theo mẫu (Phụ lục 4), có hai (02) người làm chứng và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận (Phụ lục 2). Trước khi xác nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi phải thẩm tra, xác minh và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và trụ sở khu dân cư nơi có đất bị thu hồi để nhân dân biết và tham gia ý kiến. Sau 15 ngày kể từ ngày niêm yết, nếu không có khiếu nại, tranh chấp hoặc ý kiến khác thì Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung đã xác nhận. Nội dung xác nhận phải ghi rõ: nguồn gốc đất; tình trạng tranh chấp, lấn chiếm ranh giới, mốc giới, khuôn viên đất; thời điểm sử dụng đất và diện tích, mục đích sử dụng đất tương ứng với từng thời điểm.

Thời điểm sử dụng đất được xác định căn cứ vào một trong các loại giấy tờ sau:

- Sổ hộ khẩu hoặc giấy đăng ký tạm trú;

- Biên lai thu thuế nhà, đất hoặc giấy xác nhận của cơ quan thuế về việc đã nộp thuế nhà, đất phù hợp với hồ sơ;

- Giấy tờ kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký;

- Giấy tờ mua bán, tặng, cho nhà đất được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận tại thời điểm mua bán, tặng, cho;

- Các giấy tờ khác có liên quan đến việc xác định thời điểm bắt đầu sử dụng nhà, đất được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận tại thời điểm bắt đầu sử dụng.