Điều 10. Diện tích đất để tính bồi thường
1. Diện tích đất để tính bồi thường là diện tích đất thu hồi, được xác định trên thực địa - thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất, đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 8 Quy định này. Trường hợp đất có các loại giấy tờ theo khoản 1,2,3,4 và 7 Điều 8 Quy định này nhưng trên giấy tờ đó không xác định rõ hoặc không đúng với thực tế sử dụng đất thì tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ hồ sơ lưu trữ tại các cơ quan chức năng liên quan, hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Điều 11 Quy định này (trường hợp không có hồ sơ lưu trữ để xác minh) để xác định diện tích, loại đất, thời điểm sử dụng đất được bồi thường theo quy định.
2. Trường hợp phải áp dụng hạn mức đất để xác định diện tích đất được bồi thường đất nông nghiệp theo khoản 5 Điều 12, hoặc đất ở có vườn ao theo khoản 4 Điều 15 Quy định này thì áp dụng hạn mức quy định theo Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc ban hành Quy định hạn mức giao đất ở, đất nông nghiệp; hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn ao cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
3. Đối với đất bị thu hồi có nhà ở nhưng không có các loại giấy tờ theo quy định thuộc khoản 6 và khoản 8 Điều 8 Quy định này thì người đang sử dụng đất được bồi thường đất ở theo diện tích đất thực tế bị thu hồi, nhưng diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở quy định tại Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Phần diện tích bị thu hồi vượt hạn mức giao đất ở được bồi thường theo đất nông nghiệp theo Điều 12 Quy định này.