Điều 38. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ các hoạt động biểu diễn của nghệ sĩ và vận động viên
1. Mặc dù có các quy định tại các Mục 11 và Mục 12 Chương II Thông tư này, trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của Bên ký kết tiến hành hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao tại Việt Nam và nhận được thu nhập từ hoạt động trình diễn đó thì sẽ phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Mặc dù có các quy định tại các Mục 4, Mục 11 và Mục 12 Chương II Thông tư này, trong trường hợp thu nhập từ hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao tại
Việt Nam của cá nhân là đối tượng cư trú của Bên ký kết không trả cho cá nhân biểu diễn mà trả cho đối tượng khác thì thu nhập đó sẽ phải nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
3. Trường hợp hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao của cá nhân, công ty là đối tượng cư trú tại Bên ký kết được thực hiện trong khuôn khổ chương trình trao đổi văn hóa giữa Chính phủ hai nước hoặc được tài trợ bởi các quỹ công của Bên ký kết, thì thu nhập từ hoạt động trình diễn tại Việt Nam của cá nhân, công ty nước ngoài sẽ được miễn thuế tại Việt Nam nếu tại hiệp định thuế giữa Việt Nam và Bên ký kết đó có quy định như vậy.
Các quy định về thuế đối với thu nhập của các nghệ sĩ và vận động viên như trên được nêu tại Điều khoản Nghệ sĩ và vận động viên của Hiệp định thuế.