Điều 30. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản
1. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam
Theo quy định tại Hiệp định thuế, Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Bên ký kết.
2. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng động sản là tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú tại Việt Nam
Theo quy định tại Hiệp định thuế, Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng tài sản kinh doanh của cơ sở thường trú hoặc chuyển nhượng cơ sở thường trú tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Bên ký kết.
3. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tàu thủy, thuyền, máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế.
Theo quy định tại Hiệp định thuế, thu nhập từ chuyển nhượng tàu thủy, thuyền, máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế (theo quy định tại Điều 16 Thông tư này) do doanh nghiệp vận tải quốc tế của Bên ký kết điều hành không phải nộp thuế tại Việt Nam.
4. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn (trực tiếp hoặc gián tiếp) của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong một quỹ tín thác hoặc một hợp danh mà giá trị bất động sản chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số tài sản của doanh nghiệp.
Trong phần lớn các Hiệp định thuế giữa Việt Nam với các nước đều có quy định theo đó, Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập trong trường hợp bên nước ngoài chuyển nhượng vốn trong các doanh nghiệp, các quỹ tín thác hoặc các hợp danh là đối tượng cư trú của Việt Nam mà giá trị bất động sản chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số tài sản của doanh nghiệp.
Tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp là số bình quân đơn giản của các tỷ lệ giá trị bất động sản còn lại trong tổng số giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp bị chuyển nhượng vốn tại thời điểm chuyển nhượng tài sản, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc năm tính thuế ngay trước năm chuyển nhượng. Việc xác định giá trị bất động sản được căn cứ vào Báo cáo tình hình tài chính đã được kiểm toán của doanh nghiệp tại thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc năm tính thuế ngay trước năm chuyển nhượng và Báo cáo tình hình tài chính do doanh nghiệp lập tại thời điểm chuyển nhượng.
Trong trường hợp đó, tỷ lệ chủ yếu của giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp được xác định như sau:
a) Trường hợp tại Hiệp định thuế có quy định cụ thể về tỷ lệ hoặc về tỷ lệ chủ yếu thì theo tỷ lệ quy định tại Hiệp định thuế;
b) Trường hợp tại Hiệp định thuế không quy định cụ thể về tỷ lệ hoặc cách xác định tỷ lệ chủ yếu thì tính chủ yếu được xác định là trên 50%.
Quy định này không áp dụng đối với các Hiệp định thuế không đề cập đến tiêu chí tỷ lệ chủ yếu mà chỉ quy định chung về quyền đánh thuế của nước nơi có bất động sản.
5. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cổ phần trong một công ty tại Việt Nam.
Tại một số Hiệp định thuế quy định thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần của một đối tượng cư trú của Bên ký kết trong một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam phải chịu thuế tại Việt Nam.
6. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản khác tại Việt Nam.
Theo quy định tại Hiệp định thuế, thu nhập từ chuyển nhượng các loại tài sản khác với các loại tài sản quy định tại khoản 1 đến khoản 5 Điều này tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Bên ký kết không phải nộp thuế thu nhập tại Việt Nam.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản như trên được nêu tại Điều khoản Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản của Hiệp định thuế.