Điều 4. Mức điểm và nguyên tắc xác định
1. Để xác định nhóm không vượt quá 30% thí sinh có điểm cao nhất quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định số 179/2026/NĐ-CP, tổng điểm của thí sinh được xác định bằng tổng điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông của môn Toán và hai môn có kết quả cao nhất trong số các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học và Tiếng Anh mà thí sinh có kết quả thi.
2. Điểm từng môn là điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông theo thang điểm 10, không nhân hệ số; không sử dụng điểm ưu tiên, điểm cộng, điểm quy đổi từ chứng chỉ hoặc kết quả của phương thức, kỳ thi, hình thức đánh giá khác để xác định tổng điểm quy định tại khoản này.
3. Đối với từng nhóm ngành (sau đây ký hiệu là g), gọi N(g) là tổng số thí sinh có dữ liệu hợp lệ theo Điều 3 Thông tư này. Số lượng tối đa thí sinh thuộc nhóm không vượt quá 30%, ký hiệu K(g), được xác định theo công thức:
K(g) = phần nguyên của {0,30 × N(g)}
Phần nguyên của một số là số nguyên lớn nhất không vượt quá số đó.
4. Thí sinh trong từng nhóm ngành được sắp xếp từ cao xuống thấp theo tổng điểm thi theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp có các thí sinh cùng một mức điểm ở cuối danh sách sau khi sắp xếp mà tổng toàn bộ số thí sinh cùng điểm đưa vào nhóm xét nhận học bổng làm tổng số vượt K(g) thì toàn bộ thí sinh tại mức điểm đồng hạng đó không thuộc nhóm được hưởng học bổng; không sử dụng tiêu chí phụ để lựa chọn một phần số thí sinh cùng mức điểm.
5. Mức điểm của nhóm ngành, ký hiệu T(g), là mức điểm thấp nhất của nhóm thí sinh được xác định theo khoản 3 Điều này. Mức điểm áp dụng để xét hưởng học bổng của nhóm ngành, ký hiệu H(g) bằng mức cao hơn giữa 22,50 điểm và T(g) theo công thức:
H(g) = max {22,50; T(g)}
6. Trường hợp K(g) bằng 0 hoặc không xác định được T(g) do toàn bộ thí sinh cùng mức vượt K(g) thì không có thí sinh thuộc nhóm không vượt quá 30% theo tiêu chuẩn quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định số 179/2026/NĐ-CP.