Điều 14. Quyết toán kinh phí
1. Cơ quan, đơn vị được giao dự toán kinh phí thực hiện chính sách học bổng có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán kinh phí theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về kế toán. Đối với người học tại cơ sở đào tạo tư thục, cơ quan, đơn vị được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao dự toán chịu trách nhiệm lập và gửi báo cáo quyết toán; cơ sở đào tạo tư thục có trách nhiệm cung cấp, xác nhận, đối soát danh sách người học, số đã chi trả và tài liệu liên quan phục vụ kiểm tra, quyết toán.
2. Báo cáo quyết toán phải phản ánh đầy đủ, chính xác số dự toán được giao, số kinh phí đã thanh toán, số kinh phí chưa sử dụng, số kinh phí phải thu hồi, số đã thu hồi, số còn phải thu và việc xử lý số kinh phí chưa sử dụng hết.
3. Số liệu quyết toán kinh phí thực hiện chính sách học bổng được lập trên cơ sở quyết định giao dự toán, quyết định xét hưởng hoặc tiếp tục hưởng học bổng, danh sách chi trả, chứng từ thanh toán, số liệu thu hồi, hoàn trả và sổ kế toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về kế toán. Dữ liệu trên Nền tảng được sử dụng để phục vụ theo dõi, kiểm tra, đối chiếu và tổng hợp tình hình thực hiện chính sách.
4. Báo cáo quyết toán kinh phí thực hiện chính sách học bổng phải kèm theo thuyết minh, trong đó đánh giá:
a) Số người được hưởng học bổng;
b) Số người tiếp tục hưởng học bổng;
c) Số người chấm dứt hoặc không tiếp tục hưởng;
d) Số tháng thực tế được hưởng;
đ) Kinh phí được giao, số đã thanh toán và số còn lại;
e) Số kinh phí phải thu hồi, đã thu hồi và còn phải thu;
g) Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân chênh lệch giữa dự toán và thực hiện.
5. Việc lập, xét duyệt và tổng hợp quyết toán thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
6. Kinh phí chưa sử dụng hết được xử lý theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
7. Trường hợp phát hiện khoản chi không đúng đối tượng, không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức hoặc không đúng quy định của pháp luật, việc xác định trách nhiệm, thu hồi và nộp trả ngân sách nhà nước thực hiện theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP, Điều 15, Điều 16 Thông tư này và pháp luật về ngân sách nhà nước.