Điều 59. Kế hoạch ứng phó khẩn nguy
1. Người khai thác bãi cất, hạ cánh phải bảo đảm nguồn lực thực hiện công tác ứng phó khẩn nguy, cứu nạn, chữa cháy, đáp ứng các hoạt động của tàu bay và các hoạt động khác tại bãi cất, hạ cánh.
2. Người khai thác bãi cất, hạ cánh phải xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn nguy để sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn nguy xảy ra tại bãi cất, hạ cánh. Kế hoạch ứng phó khẩn nguy là một phần của tài liệu khai thác bãi cất, hạ cánh.
3. Kế hoạch ứng phó khẩn nguy bãi cất, hạ cánh bao gồm tối thiểu các nội dung sau:
a) Các tình huống khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh;
b) Các phương án xử lý đối với các tình huống khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh, bao gồm công tác ứng phó khi xảy ra tình huống khẩn nguy và công tác sau khi xảy ra tình huống khẩn nguy;
c) Tổ chức công tác ứng phó khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh;
d) Vai trò, trách nhiệm, thông tin liên hệ của các cơ quan, đơn vị trong công tác ứng phó khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh;
đ) Hệ thống thông tin liên lạc;
e) Cơ sở hạ tầng, lực lượng, phương tiện, trang thiết bị sử dụng trong công tác ứng phó khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh; các văn bản hiệp đồng, thỏa thuận với các cơ quan, đơn vị liên quan hỗ trợ và cung cấp dịch vụ ứng phó khẩn nguy;
g) Chế độ trực khẩn nguy;
h) Công tác huấn luyện, đào tạo và tổ chức thực hành diễn tập các tình huống khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh;
i) Các sơ đồ, bản đồ phục vụ công tác ứng phó khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh.
4. Kế hoạch ứng phó khẩn nguy bãi cất, hạ cánh phải được rà soát, bổ sung, cập nhật các thông tin liên quan tối thiểu 01 năm một lần hoặc khi có sự thay đổi nội dung trong kế hoạch ứng phó khẩn nguy tại bãi cất, hạ cánh để phù hợp với thực tế tại bãi cất, hạ cánh.
5. Diễn tập kế hoạch ứng phó khẩn nguy được tổ chức tối thiểu 03 năm một lần.