Điều 23. Hiệu lực của văn bản xác nhận đăng ký, đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài
1. Trường hợp dự án thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, văn bản xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần đầu, đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực đương nhiên hết hiệu lực khi có quyết định chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài của Bộ Tài chính.
2. Quá thời hạn 24 tháng kể từ ngày được xác nhận tiến độ chuyển vốn đầu tư bằng tiền ra nước ngoài tại văn bản xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần đầu mà nhà đầu tư không phát sinh giao dịch chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài bằng tiền và không thực hiện đăng ký thay đổi tiến độ chuyển vốn theo quy định tại Thông tư này, văn bản xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực đương nhiên hết hiệu lực.
Trong thời hạn 24 tháng, nhà đầu tư chưa thực hiện chuyển vốn đầu tư bằng tiền ra nước ngoài và có nhu cầu thay đổi thời hạn chuyển vốn đầu tư bằng tiền ra nước ngoài so với tiến độ chuyển vốn đã được xác nhận tại văn bản xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần đầu, nhà đầu tư thực hiện đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối với Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực theo thẩm quyền quy định tại Điều 12 Thông tư này.
3. Trường hợp chuyển nhượng toàn bộ dự án đầu tư ra nước ngoài cho nhà đầu tư trong nước, sau khi hoàn tất việc thanh toán chuyển nhượng dự án đầu tư, nhà đầu tư chuyển nhượng dự án phải thông báo bằng văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực nơi xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần gần nhất về việc chấm dứt hoạt động đầu tư ra nước ngoài đối với dự án.
Sau khi nhà đầu tư nhận chuyển nhượng được điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (đối với dự án thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài) hoặc được xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối (đối với dự án không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài), văn bản xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần đầu, xác nhận đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực cho nhà đầu tư chuyển nhượng đương nhiên hết hiệu lực.
4. Trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 103/2026/NĐ-CP đối với dự án không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hoàn tất việc thanh lý dự án đầu tư tại nước ngoài và chuyển về nước toàn bộ các khoản thu từ việc thanh lý dự án đầu tư (nếu có), nhà đầu tư phải gửi thông báo cho Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực nơi xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần gần nhất và ngân hàng được phép nơi mở tài khoản vốn đầu tư về việc chấm dứt hoạt động đầu tư đối với dự án theo mẫu tại Phụ lục số 14 ban hành kèm theo Thông tư này, trong đó cam kết đã hoàn tất việc thanh lý dự án đầu tư tại nước ngoài và chuyển về nước toàn bộ các khoản thu từ việc thanh lý dự án (nếu có).
Kể từ thời điểm nhà đầu tư có thông báo cho Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực nơi xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần gần nhất, văn bản xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối lần đầu, đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước Khu vực đương nhiên hết hiệu lực.
5. Khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về việc giả mạo hồ sơ, tài liệu đăng ký, đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài, cơ quan xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối theo thẩm quyền quy định tại Điều 12 Thông tư này có văn bản gửi nhà đầu tư và ngân hàng được phép nơi nhà đầu tư mở tài khoản vốn đầu tư về việc chấm dứt hiệu lực và lý do chấm dứt hiệu lực văn bản xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.