Điều 13. Bảo đảm an toàn vật lý và môi trường vận hành
1. Các khu vực xử lý, lưu trữ thông tin, phương tiện xử lý thông tin, phương tiện bảo đảm an toàn thông tin mạng phải được đặt ở vị trí an toàn, tại các phòng chuyên biệt và phải được thiết lập cơ chế bảo vệ, theo dõi phát hiện xâm nhập, biện pháp kiểm soát truy cập, kết nối vật lý phù hợp với từng khu vực, bảo đảm chỉ người có nhiệm vụ mới được vào và phải có nội quy riêng khi làm việc trong các khu vực này.
2. Trung tâm Tích hợp dữ liệu của tỉnh là khu vực hạn chế tiếp cận, chỉ những cá nhân có quyền, nhiệm vụ theo quy định và được sự cho phép của cơ quan quản lý là Sở Thông tin và Truyền thông mới được vào Trung tâm Tích hợp dữ liệu. Việc vào, ra Trung tâm Tích hợp dữ liệu phải thực hiện theo Nội quy quy định về kiểm soát vào ra.
3. Các khu vực quy định tại khoản 1, 2 Điều này phải có biện pháp bảo đảm nguồn điện và dự phòng điện, phòng chống cháy nổ, ngập lụt, động đất, chống sét, tác động của môi trường và các thảm họa khác do thiên nhiên và con người gây ra.
4. Các đường truyền dữ liệu, đường truyền Internet và hệ thống dây dẫn các hệ thống mạng diện rộng (WAN), hệ thống mạng nội bộ (LAN) phải được lắp đặt trong ống, máng che đậy kín, hạn chế khả năng tiếp cận trái phép. Ngắt các cổng kết nối không sử dụng, đặc biệt là ở khu vực làm việc chung của các cơ quan, đơn vị.
5. Thiết lập cơ chế dự phòng đối với các thiết bị hạ tầng kỹ thuật quan trọng; có kế hoạch kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ và duy trì thông số kỹ thuật các thiết bị này hoặc có phương án sửa chữa, thay thế đáp ứng yêu cầu về tính khả dụng.
6. Cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xây dựng quy trình bảo dưỡng, bảo trì và hướng dẫn cách sử dụng, quản lý, vận hành hệ thống hạ tầng kỹ thuật của mình; chỉ định bộ phận chuyên trách về an toàn thông tin mạng thực hiện quản lý, vận hành và định kỳ kiểm tra, sửa chữa, bảo trì thiết bị (bao gồm thiết bị đang hoạt động và thiết bị dự phòng).