vanban.org

Điều 14. Thanh toán giữa các Ngân hàng — Quyết định 661/QĐ-NHPT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/01/2007 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Ngân hàng phát triển Việt Nam Ban hành 29/12/2006 Hiệu lực 01/01/2007 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 661/QĐ-NHPT › Phần III › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Thanh toán giữa các Ngân hàng

Thanh toán từng lần tài khoản tiền gửi của Chi nhánh NHPT mở tại Ngân hàng Nhà nước

14.1 Trường hợp Ngân hàng Phát triển sử dụng chứng từ bằng giấy để giao dịch thanh toán qua Ngân hàng Nhà nước.

14.1.1   Tại Chi nhánh NHPT (sau đây gọi tắt là Ngân hàng bên trả tiền).

Đối với các khoản thanh toán của bản thân Chi nhánh NHPT (là đơn vị trả tiền), Ngân hàng lập và nộp chứng từ thanh toán vào Ngân hàng Nhà nước nơi mở tài khoản để thực hiện thanh toán theo đúng các quy định tại phần II Quy định này.

Đối với các khoản thanh toán của khách hàng, Chi nhánh NHPT bên trả tiền lập thêm bảng kê các chứng từ thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (theo mẫu Phụ lục số 2) và nộp vào Ngân hàng Nhà nước kèm theo các chứng từ thanh toán của khách hàng. Bảng kê các chứng từ thanh toán được lập riêng theo từng Ngân hàng bên thụ hưởng mở tài khoản tại cùng đơn vị Ngân hàng Nhà nước 2 liên trong trường hợp Ngân hàng bên thụ hưởng mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước khác.

14.1.2 Tại Chi nhánh NHPT phục vụ người thụ hưởng: Căn cứ báo Có của Ngân hàng Nhà nước gửi đến, Chi nhánh NHPT phục vụ người thụ hưởng kiểm soát lạ, nếu đúng ghi:

Nợ Tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước

Có Tài khoản người thụ hưởng và gửi giấy báo Có cho người thụ hưởng.

14.2 Trường hợp Ngân hàng Phát triển sử dụng chứng từ điện tử để gioa dịch thanh toán qua Ngân hàng Nhà nước.

14.2.1 Ngân hàng Phát triển nếu thanh toán điện tử qua Ngân hàng Nhà nước phải có đăng ký, thoả thuận với Ngân hàng Nhà nước về sử dụng Chứng từ điện tử và chữ ký điện tử do Ngân hàng Nhà nước cấp để sử dụng trong thanh toán điện tử liên Ngân hàng theo đúng quy định hiện hành:

- Các lệnh thanh toán (lệnh chuyển Nợ, Lệnh chuyển có…) và các bảng kê sử dụng trong thanh toán điện tử liên Ngân hàng phải được sử dụng mẫu do Ngân hàng Nhà nước quy định.

- Chứng từ điện tử phải được lập đúng, chính xác các yếu tố và phải có đầy đủ các chữ ký điện tử của người phê duyệt sử dụng tiền trên tài khoản (TGĐ, Giám đốc hoặc người được uỷ quyền) và chữ ký điện tử của người kiểm soát (Kế toán trưởng, Trưởng phòng kế toán hoặc người được uỷ quyền).

Chứng từ điện tử phải in ra giấy. Trong trường hợp cần thiết khi in ra thì trên chứng từ giấy đó phải thể hiện được tên, ký hiệu riêng của những người đã ký chịu trách nhiệm trên chứng từ điện tử và thực hiện trả tiên.

14.2.2 Quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán điện tử qua Ngân hàng Nhà nước (chuyển tiền điện tử…) được thực hiện theo các quy định hiện hành.

14.3 Thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng

14.3.1 Thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng trong (hoặc ngoài) phạm vi tỉnh , thành phố do Ngân hàng Nhà nứơc làm chủ trì.

Việc thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng do Ngân hàng nhà nước làm chủ trì được thực hiện theo các văn bản quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước.

14.4.2. Thanh toán bù trừ trực tiếp hai hay nhiều Ngân hàng trên một địa bàn huyện, thị xã, không có chi nhánh Ngân hàng Nhà nước:

Ngân hàng Phát triển, Chi nhánh tỉnh, Thành phố trên địa bàn chọn một đơn vị ngân hàng làm chủ trì và các đơn vị khác là Ngân hàng thành viên. Các Ngân hàng thành viên phải mở tài khoản tièn gửi tại Ngân hàng chủ trì để thực hiện thanh toán bù trừ. Việc thanh toàn bù trừ được thực hiện như quy định của ngân hàng chủ trì.