Điều 7. Bồi thường theo giá trị đất ở đối với một số trường hợp cụ thể khác
1. Trường hợp sử dụng đất vào mục đích để ở từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời điểm thu hồi đất do nhận chuyển nhượng, cho, tặng của người có giấy tờ hợp lệ về đất ở, nhưng chưa hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thì bồi thường 100% theo giá đất ở đối với diện tích đất ghi trong giấy tờ, nhưng phải khấu trừ nghĩa vụ tài chính chưa hoàn thành đối với Nhà nước theo quy định hiện hành.
2. Trường hợp mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước gắn với đất ở theo Nghị định số 61/CP của Chính phủ và đăng ký trả tiền trong nhiều năm; đến thời điểm thu hồi đất chưa nộp đủ tiền thì bồi thường 100% giá trị đất ở được xác định tương ứng với tỷ lệ số tiền đã nộp, phần diện tích đất còn lại trong hợp đồng mà người mua chưa nộp tiền thì được bồi thường 60% giá trị đất ở.
3. Trường hợp thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, không được bố trí thuê lại nhà ở nơi khác, được bồi thường 60% giá trị đất ở cho diện tích ghi trong hợp đồng thuê nhà nhưng không quá hạn mức giao đất ở. Tổng số tiền bồi thường về đất không dưới 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
4. Trường hợp sử dụng đất làm nhà ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do mua thanh lý nhà ở tập thể, nhà làm việc, nhà xưởng, nhà kho của cơ quan, đơn vị (mà cơ quan, đơn vị xây dựng bằng nguồn vốn tự có) thì bồi thường 100% giá trị đất ở nhưng không quá hạn mức giao đất ở.
5. Trường hợp sử dụng đất ở do thừa kế của người không có giấy tờ hợp lệ về nhà ở, đất ở được UBND phường, xã xác nhận thì những người được hưởng thừa kế được bồi thường theo mức quy định tại điểm p khoản 2 Điều 5 Quy định này.
6. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được bồi thường thiệt hại về đất sau khi khấu trừ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có).
7. Trường hợp sử dụng đất có đăng ký đất ở theo Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ nhưng không có giấy tờ về nhà, đất thì Hội đồng bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng thẩm tra thời điểm và nguồn gốc sử dụng đất để xác định mức bồi thường:
a) Sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì được bồi thường 100% giá trị đất ở nhưng không quá hạn mức giao đất ở.
b) Sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được bồi thường 50% giá trị đất ở nhưng không quá hạn mức giao đất ở.
8. Đối với nhà nhiều tầng, do nhiều hộ cùng sử dụng thì bồi thường đất theo hệ số điều chỉnh giá trị sử dụng từng tầng vận dụng quy định tại Nghị định số 21/CP ngày 16 tháng 4 năm 1996 của Chính phủ.
9. Trường hợp đang sử dụng đất ở do tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất nhưng đã phân phối (cấp) trái thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của tổ chức làm nhà ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì hỗ trợ 60% giá trị đất ở không quá hạn mức giao đất ở. Diện tích còn lại không bồi thường.
10. Đất ở được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng người sử dụng đất đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách Nhà nước mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì bồi thường 100% đối với diện tích đất ở được giao.
b) Trường hợp sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được bồi thường 100% diện tích được giao, nhưng không quá hạn mức giao đất ở. Diện tích còn lại hỗ trợ 50% giá trị đất ở.
11. Việc thẩm tra thời điểm và nguồn gốc sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Điều 12 của Quy định này.