Điều 18. Đất rừng sản xuất
1. Không giải quyết việc bồi thường, hỗ trợ về đất cho các đối tượng có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất trồng rừng; Quyết định giao đất trồng rừng của UBND các quận, huyện; đất rừng có chứng thư kiến điền của chế độ cũ nhưng không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
2. Đối với những hộ nông dân được giao đất để trồng rừng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu nhập từ việc trồng rừng là nguồn thu nhập chính của hộ gia đình đó, được chính quyền địa phương xác nhận thì được hỗ trợ tối đa không quá 10.000m2/hộ (mười nghìn mét vuông/hộ), theo quy định sau:
a) Đối với đất trồng rừng, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có hộ khẩu thường trú tại nơi giải toả, được hỗ trợ 4.500đ/m2 cho diện tích đất thu hồi.
b) Đối với đất trồng rừng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có hộ khẩu thường trú tại nơi giải toả, sản xuất ổn định không tranh chấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, được hỗ trợ 3.500đ/m2 cho diện tích đất thu hồi.
c) Đối với đất trồng rừng, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có hộ khẩu thường trú tại nơi giải toả, được hỗ trợ 2.400đ/m2 cho diện tích đất thu hồi.
d) Đối với đất trồng rừng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có hộ khẩu thường trú tại nơi giải toả được UBND phường, xã sở tại xác nhận sản xuất ổn định không tranh chấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, được hỗ trợ mức 1.400đ/m2 cho diện tích đất thu hồi.