Điều 12. Căn cứ để xác nhận lại nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất
Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất ở, nay được UBND phường, xã xác nhận lại và phải có một trong các giấy tờ sau đây phù hợp với thửa đất thu hồi để Hội đồng bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng thẩm tra, xác minh.
1. Việc xác nhận lại nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất căn cứ vào ngày, tháng, năm và mục đích sử dụng ghi trên một trong các giấy tờ sau đây (phù hợp với thửa đất thu hồi):
a) Biên lai thu thuế nhà đất hợp lệ.
b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất.
c) Quyết định hoặc bản án của Toà án nhân dân, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất.
d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân phường, xã nơi có đất.
e) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất.
g) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ.
h) Bản sao hộ khẩu thường trú (đã được cơ quan bồi thường đối chiếu với bản gốc) ghi rõ thời gian chuyển đến.
i) Giấy tờ khác có liên quan đến nhà ở, đất ở.
2. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của UBND phường, xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở họp lấy ý kiến công khai tập thể nhân dân tại nơi cư trú, có đại diện Uỷ ban nhân dân, cán bộ địa chính - xây dựng, cán bộ tư pháp, công an khu vực, mặt trận, đoàn thể phường, xã tham gia và thống nhất ký tên. Chủ tịch UBND phường, xã phải chịu trách nhiệm về việc xác nhận đó.