vanban.org

Điều 5. Việc lập hồ sơ thu hồi đất thuộc các trường hợp vi phạm được quy định tại Điều 2 Quy định này được thực hiện trên cơ sở sau: — Quyết định 59/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/05/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/05/2015 Thay thế: 12/2015/QĐ-UBND · 25/05/2015
Hà Nội Ban hành 07/04/2009 Hiệu lực 17/04/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND Về việc bãi bỏ Quyết định số 59/2009/QĐ-UBND ngày 07/4/2009 của UBND thành phố Hà Nội · 12/2015/QĐ-UBND
Quyết định 59/2009/QĐ-UBND về trình tự, thủ tục và cơ chế thực hiện khi Nhà nước thu hồi đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức, cá nhân nước ngoài vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành · 59/2009/QĐ-UBND
25/05/201512/2015/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 17/04/2009Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 59/2009/QĐ-UBND › Chương 2 › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Việc lập hồ sơ thu hồi đất thuộc các trường hợp vi phạm được quy định tại Điều 2 Quy định này được thực hiện trên cơ sở sau:

1) “Kết luận thanh tra” về hành vi, mức độ vi phạm pháp luật đất đai quy định tại khoản 1 Điều 3 quy định này.

2) Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật đối với vi phạm pháp luật đất đai.

3) Quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại; Kết luận về nội dung tố cáo vi phạm pháp luật đất đai của cơ quan Nhà nước đã có hiệu lực thi hành.

4) Văn bản kiến nghị thu hồi đất vi phạm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

5) Các trường hợp vi phạm theo quy định tại khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 2 Quy định này đã bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất nhưng cố tình không thực hiện bị cơ quan xử lý vi phạm kiến nghị thu hồi.