Điều 11. Xử lý giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất trong trường hợp thu hồi đất theo quy định tại Điều 2 như sau:
1) Các trường hợp vi phạm khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường hoặc hỗ trợ về đất và phải giao lại đất không điều kiện toàn bộ diện tích đất cho Nhà nước; các trường hợp đã nộp tiền sử dụng đất hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho thời gian thuê đất vào ngân sách Nhà nước được xem xét hoàn trả lại theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện (đối với trường hợp là cá nhân, hộ gia đình) hoặc của Ủy ban nhân dân cấp Thành phố (đối với trường hợp là tổ chức).
2) Các trường hợp được Nhà nước xem xét việc hoàn trả hoặc hỗ trợ một phần kinh phí đã đầu tư vào đất thì đơn vị được giao quản lý đất có trách nhiệm xác định phần giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất báo cáo Hội đồng thẩm định giá xem xét, trình Ủy ban nhân dân cấp ra quyết định thu hồi đất phê duyệt và tổ chức thực hiện. Việc thành lập Hội đồng thẩm định giá được quy định theo quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân Thành phố và Ủy ban nhân dân cấp huyện.
3) Trường hợp đất bị thu hồi thuộc nhóm đất phi nông nghiệp, được tham gia thị trường bất động sản hoặc đất bị thu hồi do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phần giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư vào đất và tiền đã nhận chuyển nhượng được giải quyết theo khoản 1, 2 và 3 Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.
4) Trường hợp thu hồi đất mà người bị thu hồi đất đã cho thuê, thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất được giải quyết quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 65 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.