Điều 10. Bố trí kinh phí để hoàn trả giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất khi thu hồi.
1) Giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất khi thu hồi gồm giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trả trước, giá trị còn lại của công trình, vật kiến trúc đã xây dựng trên đất không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
2) Ủy ban nhân dân Thành phố cho phép áp dụng cơ chế tạm ứng vốn cho Trung tâm giao dịch đất đai và phát triển quỹ đất để hoàn trả giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất khi thu hồi theo từng trường hợp.
Sau khi nhận được Quyết định thu hồi đất, Trung tâm giao dịch đất đai và phát triển quỹ đất có trách nhiệm báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường để chủ trì cùng Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, trình Ủy ban nhân dân Thành phố ứng vốn ngân sách để thực hiện. Ngoài việc nhận vốn tạm ứng từ ngân sách Thành phố, Trung tâm giao dịch đất đai và phát triển quỹ đất được phép vay vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng phù hợp với chức năng và cơ chế thu, chi tài chính quy định của Thành phố để thực hiện quyết định thu hồi đất và có kế hoạch hoàn trả, quyết toán vốn tạm ứng theo quy định.
3) Ủy ban nhân dân Thành phố cho phép Ủy ban nhân dân cấp huyện tạm ứng vốn từ ngân sách cấp huyện cho Trung tâm phát triển quỹ đất cấp huyện để hoàn trả giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất khi thu hồi theo từng trường hợp; tổ chức thanh quyết toán và hoàn trả ngân sách khi có phương án sử dụng đất. Sau khi đã hoàn trả phần vốn tạm ứng, Ủy ban nhân dân cấp huyện được phép quản lý, sử dụng toàn bộ số tiền còn lại thu được theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước khi giao đất thực hiện dự án đầu tư.
4) Các trường hợp không được hoàn trả giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất:
- Tài sản gắn liền với đất được tạo ra trước khi có Quyết định thu hồi đất mà trái với mục đích sử dụng đất.
- Đất bị thu hồi thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 5, 6 Điều 2 của Quy định này.