Điều 4. Thẩm quyền xử lý vi phạm, ra quyết định thu hồi đất
1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với các trường hợp quy định tại khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 2 Quy định này nếu thuộc thẩm quyền.
Chấm dứt hợp đồng giao, cho thuê sử dụng đất công ích khi người sử dụng đất vi phạm khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 7 Điều 2 Quy định này.
Trường hợp phải quyết định thu hồi đất để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất thì chậm nhất là sau 05 ngày làm việc (kể từ ngày ban hành Quyết định xử phạt hành chính), Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện xử lý theo quy định.
2) Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam có hành vi vi phạm thuộc đối tượng quy định tại Điều 2 Quy định này; Xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành đối với các trường hợp là tổ chức trong nước, tổ chức và cá nhân nước ngoài, cơ sở tôn giáo lấn, chiếm đất theo quy định tại khoản 6 Điều 38 Luật Đất đai, theo đề nghị của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn.
3) Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 7 Điều 2 Quy định này.