Điều 13. Trách nhiệm của người bị thu hồi đất
1) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cơ sở tôn giáo và tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất trên địa bàn Thành phố vi phạm pháp luật về đất đai mà bị xử lý thu hồi đất thuộc trường hợp được hoàn trả giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất, có trách nhiệm kê khai trung thực, xuất trình đầy đủ chứng từ có liên quan đến giá trị tài sản đã đầu tư trên đất; giá trị đã qua sử dụng, khấu hao và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai của mình; đồng thời, chấp hành nghiêm chỉnh quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trường hợp người bị thu hồi đất không thực hiện kê khai hoặc kê khai không đúng thực tế thì đơn vị được giao đất và Hội đồng thẩm định giá tổ chức điều tra để xác định hoặc căn cứ hồ sơ kế toán báo cáo kê khai tại cơ quan Thuế để xác định giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư vào đất để xác định. Chi phí cho việc định giá do người bị thu hồi đất chi trả và được khấu trừ vào giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất mà người sử dụng đất bị thu hồi được hưởng.
2) Nếu người bị thu hồi đất cố ý không chấp hành Quyết định thu hồi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thì giao Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định áp dụng biện pháp hành chính cưỡng chế thu hồi đất. Chi phí cho việc cưỡng chế thu hồi đất do người bị thu hồi đất chi trả và được khấu trừ vào giá trị còn lại đã đầu tư vào đất mà người sử dụng đất bị thu hồi được hưởng. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và việc chấp hành quyết định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý hành chính hoặc chuyển cơ quan pháp luật xem xét, truy cứu trách nhiệm theo quy định của Pháp luật.