Điều 9. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại
1. Giá đất để tính bồi thường
Giá đất để tính bồi thường là giá đất được tính theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.
a) Trường hợp giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì ngành Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp ngành Tài chính xác định lại giá đất cụ thể trình cấp thẩm quyền quyết định giá đất bồi thường cho phù hợp với thực tế và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá các loại đất.
b) Trường hợp dự án có quy mô lớn, diện tích thu hồi đất nhiều, không thể lập và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư một lần được mà phải chia ra nhiều phương án nhỏ cho phù hợp với quy mô, tính chất, điều kiện cụ thể của từng dự án thì giá đất để tính bồi thường là giá đất tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất.
2. Chi phí đầu tư vào đất còn lại
a) Trường hợp có đủ chứng từ hồ sơ chứng minh chi phí đầu tư vào đất: Tổ chức được giao làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ của dự án chịu trách nhiệm xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại trình cấp thẩm quyền (theo phân cấp) phê duyệt.
b) Trường hợp thực tế chứng minh được các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại đủ điều kiện để bồi thường, nhưng không xác định được giá trị cụ thể các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại. Tổ chức thực hiện công tác bồi thường có trách nhiệm xác định chi phí đầu tư vào đất xem xét, xác định tham mưu cấp thẩm quyền (theo phân cấp) xem xét hỗ trợ từng trường hợp cụ thể.
c) Những chi phí đầu tư vào đất mà thực tế không chứng minh được và không có đủ hồ sơ, chứng từ theo đúng quy định thì không được bồi thường.