Điều 10. Xử lý một số trường hợp cụ thể khi bồi thường đất
1. Đối với đất ở
a) Trường hợp diện tích đất ở còn lại của người sử dụng đất sau khi Nhà nước thu hồi nhỏ hơn diện tích quy định của quy chuẩn do ngành Xây dựng ban hành thì thực hiện thu hồi phần diện tích còn lại đó.
b) Trường hợp diện tích đất ở còn lại của người sử dụng đất sau khi Nhà nước thu hồi lớn hơn diện tích quy định về quy chuẩn do ngành Xây dựng ban hành, nếu người bị thu hồi đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích đất ở còn lại thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét thu hồi đất để sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn.
c) Việc đền bù, hỗ trợ đối với phần diện tích đất ở còn lại được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
2. Đối với đất nông nghiệp
Đối với đất nông nghiệp sau khi thu hồi mà diện tích của thửa đất còn lại không còn khả năng canh tác do ảnh hưởng của dự án gây ra mà người sử dụng đất có yêu cầu bồi thường thì cũng được bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành và được hưởng các khoản hỗ trợ theo quy định này.
3. Quản lý đất thu hồi tại khoản 1, 2 điều này
a) Trường hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ là ngân sách của Nhà nước (hoặc chủ đầu tư tự bỏ kinh phí bồi thường, hỗ trợ nhưng được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp) thì phần diện tích tính bồi thường hết thửa đất được giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý, tạm sử dụng và không được tính bồi thường cho các dự án tiếp theo.
b) Trường hợp chủ đầu tư tự bỏ kinh phí bồi thường hỗ trợ nhưng không được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì Phần diện tích tính bồi thường hết thửa đất được giao cho chủ đầu tư quản lý, tạm sử dụng. Các dự án tiếp theo phải tính bồi thường lại cho chủ đầu tư.