Điều 7. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
1. Đối với cây trồng (cây trồng hàng năm, cây lâu năm, các loại hoa màu v.v..) được tính bồi thường theo đơn giá do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp đặc biệt, hội đồng bồi thường của dự án báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị xã lấy ý kiến Sở Tài chính trình UBND tỉnh quyết định cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
2. Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại.
3. Cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, hộ gia đình trồng, quản lý chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
4. Đối với vật nuôi (nuôi trồng thủy sản) được bồi thường theo quy định sau:
4.l- Đối với vật nuôi (nuôi trồng thủy sản) mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường.
4.2- Đối với vật nuôi (nuôi trồng thủy sản) mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm, mức bồi thường theo đơn giá do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường bằng 50% đơn giá do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ.
5. Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu giữ lại nguyên hiện trạng rừng cây, vườn cây để tạo cảnh quan, môi trường cho dự án thì người sử dụng đất phải hỗ trợ thêm cho người có rừng cây, vườn cây; mức hỗ trợ cụ thể do cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường quyết định trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của chủ đầu tư, nhưng mức hỗ trợ tối đa không vượt quá mức bồi thường rừng cây, vườn cây đó.