Điều 17. Hỗ trợ khác
Ngoài việc hỗ trợ quy định tại các Điều 13, 14 và 15 của quy định này, người bị thu hồi đất còn được hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất. Tiền hỗ trợ khác do tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chi trả; đối với đất thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng chưa có dự án sử dụng đất, thì tổ chức phát triển quỹ đất phải đứng ra chi trả. Cụ thể:
1. Mức hỗ trợ đối với gia đình đang hưởng chính sách (có giấy chứng nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) như sau:
a) Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động: 6.000.000 đồng/hộ.
b) Thương binh, gia đình liệt sĩ (cha, mẹ, vợ, chồng, con là liệt sĩ): 4.000.000 đồng/hộ.
c) Gia đình có công với cách mạng, gia đình cách mạng lão thành, gia đình cán bộ hưu trí và các đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên khác: 2.000.000 đồng/hộ.
d) Trường hợp trong một hộ gia đình có nhiều đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nêu trên thì hộ gia đình chỉ được hưởng một mức hỗ trợ của đối tượng có mức hỗ trợ cao nhất.
2. Hỗ trợ đối với đất đang sử dụng, Nhà nước thu hồi mà không đủ điều kiện được bồi thường.
a) Điều kiện để được hỗ trợ về đất nông nghiệp:
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp (thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; Điều 20 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và khoản 1 Điều 14 của Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định thì được hỗ trợ.
- Hỗ trợ bằng năm mươi phần trăm (50%) giá đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 01 tháng 10 năm 2009 (ngày Nghị định số 69/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) theo giá đất Ủy ban nhân dân tỉnh quy định hàng năm tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất;
- Từ sau ngày 01 tháng 10 năm 2009 thì không được hỗ trợ.
b) Đối với đất có nhà ở nhưng không đủ điều kiện bồi thường về đất:
- Tùy theo từng trường hợp cụ thể tổ chức thực hiện công tác bồi thường tham mưu Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư cấp huyện, thị xã gửi Hội đồng thẩm định cấp tỉnh thẩm định trình UBND tỉnh xem xét quyết định nhưng mức hỗ trợ tối đa không cao hơn đơn giá Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hàng năm tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
- Diện tích hỗ trợ theo diện tích thực tế nhưng không quá hạn mức đất ở do UBND tỉnh quy định.
c) Mức diện tích đất được hỗ trợ:
Mức diện tích đất được hỗ trợ tính theo diện tích thực tế bị thu hồi nhưng diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều 70 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 69 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.
3. Hỗ trợ đất ven đường giao thông có đủ điều kiện được bồi thường.
a) Hộ gia đình cá nhân, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp có thửa đất tiếp giáp mặt tiền đường liên ấp trở lên (trừ đất nông nghiệp quy định tại Điều 11 của Quy định này), vào sâu 50 m nhưng không vượt giới hạn ranh giới thửa đất thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp, còn được hỗ trợ 50% giá đất ở cùng vị trí tương ứng theo quy định của bảng giá đất UBND tỉnh quy định. Diện tích được hỗ trợ tối đa không quá năm (05) lần hạn mức giao đất ở quy định tại Quyết định số 999/2005/QĐ-UBND.
b) Phần diện tích được hỗ trợ tại điểm a khoản 3 điều này thì không được nhận các khoản hỗ trợ quy định tại Điều 11, 15 của quy định này.
4. Các trường hợp sử dụng đất ở có nguồn gốc lấn chiếm khi Nhà nước thu hồi và phải di dời, được xem xét hỗ trợ chi phí di chuyển chỗ ở và chi phí ổn định đời sống theo Điều 13 và Điều 14 của Quy định này.
5. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có mức sống thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí hộ nghèo do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố trong từng thời kỳ thì được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo; mức hỗ trợ là năm trăm ngàn (500.000) đồng/hộ/01 tháng và thời gian hỗ trợ là năm (05) năm kể từ ngày hoàn thành việc thu hồi đất.
6. Hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất chấp hành tốt chủ trương và giao đất đúng tiến độ thực hiện dự án thì ngoài việc được bồi thường, hỗ trợ theo quy định, còn được hỗ trợ thêm mười (10) phần trăm trên tổng giá trị được bồi thường về đất (không tính các chính sách hỗ trợ về đất).
7. Các trường hợp khác: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.