vanban.org

Điều 29. Bồi thường đối với cây trồng vật nuôi — Quyết định 41/2005/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/01/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/01/2007
Khánh Hòa Ban hành 10/05/2005 Hiệu lực 20/05/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 41/2005/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa · 41/2005/QĐ-UBND
25/01/200702/2007/QĐ-UBNDThay cụm từ Đang xem 20/05/2005Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 41/2005/QĐ-UBND › Chương III › Điều 29
Đọc toàn văn

Điều 29. Bồi thường đối với cây trồng vật nuôi

1. Mức bồi thường đối với hoa màu theo đơn giá do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.

2. Mức bồi thường đối với cây hàng năm bằng giá trị sản lượng một vụ thu hoạch, giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính cho năng suất cao nhất trong ba năm liền kề của cây trong chính tại địa phương theo thời giá trung bình của nông sản cùng loại tại địa phương tại thời điểm thu hối đất.

3. Bồi thường về cây lâu năm: cây lâu năm bao gồm cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ, lấy lá, cây rừng quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 74/CP ngày 25-10-1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá trị hiện có của vườn cây, giá trị này không bao gồm giá trị sử dụng đất. Giá trị hiện có của vườn cây lâu năm để tính bồi thường được xác định như sau:

a) Cây trồng đang ở chu kỳ đầu tư hoặc đang ở thời gian xây dựng cơ bản, thì giá trị hiện có của vườn cây là toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất tính thành tiền theo giá thị trường tại địa phương.

b) Cây lâu năm là loại thu hoạch một lần (cây lấy gỗ) đang ở thời kỳ thu hoạch thì giá trị hiện có của vườn cây được tính bồi thường bằng (=) số lượng từng loại cây trồng nhân (x) với giá bán 1 cây tương ứng cùng loại, cùng độ tuổi, cùng kích thước hoặc có cùng khả năng cho sản phẩm ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường trừ (-) đi giá trị thu hồi (nếu có), cách tính như sau:

Giá trị vườn cây = (số lượng cây từng loại x giá 1 cây) - Giá trị thu hồi

c) Cây lâu năm là loại thu hoạch nhiều lần (cây ăn trái, cây lấy dầu, nhựa) đang ở thời kỳ thu hoạch thì giá trị hiện có của vườn cây được tính là giá bán vườn cây ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường trừ (-) đi giá trị thu hồi (nếu có).

Giá trị vườn cây = Giá bán vườn cây - Giá trị thu hồi

d) Cây lâu năm đã đến thời hạn thanh lý, thì chỉ bối thường chi phí chặt hạ cho chủ sở hữu vườn cây:

Chi phí đầu tư ban đầu, chi phí chăm sóc, chi phí chặt hạ nói tại Khoản này được tính thành tiền theo mức chi phí trung bình tại địa phương do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định đối với từng loại cây.

4. Cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, hộ gia đình trồng, quản lý chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.

5. Đối với cây trồng và lâm sản phụ trồng trên diện tích đất lâm nghiệp do Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá thể, để trồng, khoanh nuôi, bảo vệ, tái sinh rừng mà khi giao là đất trống, đồi núi trọc, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng, thì được bồi thường theo giá bán cây rừng chặt hạ tại cửa rừng cùng loại ở địa phương tại thời điểm có quyết định thu hồi đất, trừ đi giá trị thu hồi (nếu có).

6. Đối với vật nuôi (nuôi trồng thỦy sản) được bồi thường theo quy định sau:

Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh.